Phiên bản mới của Firefox sẽ có giao diện bắt chước Chrome?

Hôm nay vi vu trên mạng tự nhiên mình đọc được tin mới khá hấp dẫn:"Design ideas show Firefox 4.0 with a Chrome look". Từ khi mới ra mắt đến nay, Chrome là trình duyệt được yêu thích nhất của mình, giao diện đẹp, đơn giản, gọn nhẹ, tốc độ cao,...nói chung thứ gì cũng "đỉnh" cả, thiếu mỗi cái là khả năng tùy chỉnh theo nhu cầu người sử dụng hơi kém, về mặt này thì Firefox là số một, do nó được tích hợp rất nhiều addon.

Phiên bản mới của Firefox dự kiến sẽ tiếp thu phong cách mới của Google Chrome với một loại cải tiến rất đáng mong đợi:

- Về giao diện: có 2 cách bài trí được lựa chọn

+ Các tabs ở phía dưới thanh Address (như cách hiển thị trước đây)


Chuyển nút Bookmark lên phía trên, thay cho menu Bookmark và thanh Bookmark cổ điển

+ Các tabs ở phía trên thanh Address (kiểu mới, ăn theo Chrome)


Kiểu tab mới phía trên giống như Chrome (và cả Apple Safari 4.0)

Hãy xem các ưu điểm và nhược điểm của 2 cách bố trí này:

- Ưu điểm:
+ Tiết kiệm không gian làm việc theo chiều dọc (vì đã bỏ rất nhiều thanh không cần thiết như Menu bar, Toolbar, Bookmark Toolbar, Status bar,...)
+ Giờ đây các tab sẽ cần có nhiều kết nối với các thành phần khác, nên sẽ có thêm các thành phần khác để kết nối chúng.
+ Khoảng cách di chuyển chuột để điều khiển các tab sẽ ngắn hơn.

- Nhược điểm:
+ Mất đi giao diện quen thuộc truyền thống mà người sử dụng đã quen.
+ Tên trang không còn tác dụng nữa, nó sẽ không hiển thị đầy đủ tên trang web mà bạn đang xem vì nó đã bị thu gọn lại trên tab.
+ Khoảng cách di chuyển chuột tới các tab sẽ xa hơn.
+ Mất một số vùng khung gian giữa biểu tượng của chương trình và widgets.


- Sự kết hợp của các nút Stop/Refresh/Go Button: thay vì sử dụng nhiều nút gây lãng phí như trước đây, Firefox sẽ xem xét khả năng tập hợp các nút này lại thành 1 nút duy nhất giống như Chrome và được đặt ở cuối thanh địa chỉ (Location bar).


Nút này có đặc điểm:
+ Chuyển thành màu xanh lá cây khi bạn gõ vào thanh địa chỉ.
+ Hiệu ứng chìm khi ở trạng thái nghỉ (sau khi đã load trang).
+ Chuyển sang màu xanh lam khi đưa chuột tới nút đó.
+ Chuyển thành màu đỏ khi đang tải trang web.
Tuy nhiên, các nút trên phần lớn chưa được "tô màu", việc thêm màu sắc sẽ khiến chúng bắt mắt hơn và được sử dụng hiệu quả hơn.

Còn đây là giao diện dự kiến trên các hệ điều hành Windows:

- Trên Vista/7


+ Hiệu ứng trong suốt: cả thanh công cụ và các tab đều được thể hiện hiệu ứng thủy tinh trong suốt (glass), các nút có hiệu ứng trong mờ cực mượt (như trong Chrome), hài hòa với thanh công cụ, hiệu ứng 3D đã đạt đến trình độ "feel".

+ Thêm nút chuyển giữa các tab (Page button) phía bên trái của thanh tab.

+ Ẩn thanh Toolbar và Bookmark, thay vào đó chỉ sử dụng nút Bookmark.



- Trên XP:


Đại học có phải là con đường duy nhất? Nhiều người đã phải đánh đổi cả cuộc sống vì đã lựa chọn lầm con đường cho mình

Tính từ khi rời ghế THPT đến nay, tôi đã làm "thầy giáo" được 5 năm, đã từng kèm cặp không dưới chục em học sinh, giỏi có, dốt có, nam có, nữ có, mỗi em một tính cách, mỗi em một mơ ước,... không em nào giống em nào, duy chỉ có một điều giống nhau: đó là sự kỳ vọng của bố mẹ các em vào tương lai của con mình sau này. Có lần, một học sinh lớp 11 của tôi "thổ lộ" rất thật lòng với "thầy giáo" rằng ước mơ của em là "mở một cửa hàng bán băng đĩa CD", khi tôi hỏi lý do thì em học sinh đó nói "em thấy mình không có năng khiếu học hành, em cũng chẳng thích học, nhưng bố mẹ em muốn em vào đại học...". Cha mẹ nào cũng muốn những điều tốt đẹp nhất cho con cái, nhưng nào có chịu hiểu: Đại Học đâu phải là con đường duy nhất hay an toàn nhất để dẫn đến thành công, nó thậm chí còn không phải là con đường nhanh nhất. Nuôi mơ ước "biến" con mình thành kỹ sư, thạc sỹ,...nhiều bậc phụ huynh ép con cái học đủ thứ trên đời, hết thầy này đến thầy nọ, hết giờ này đến giờ khác, hết môn này đến môn kia mà không biết năng lực thực sự của con cái mình, họ cho rằng làm như vậy là tốt nhất cho con cái. Nhìn thời gian biểu của học sinh cấp 2, cấp 3 hiện nay mà tôi thấy giật mình:
– Sáng: 6h45 - 11h45: học chính ở trường.
– Chiều: 13h00 - 16h30: học thêm.
– Tối: 19h00 - 21h00: học gia sư.
Với lịch học căng thẳng như vậy thì liệu học sinh có thời gian nào để tự học những kiến thức mà mình được tiếp nhận? Khi đã hổng những kiến thức đầu thì càng học sẽ càng chẳng hiểu gì cả. Vậy mà học sinh vẫn phải tuân thủ lịch làm việc căng thẳng đó trong suốt cả năm học, chỉ để các bậc phụ huynh yên tâm một điều rằng mình đã làm hết sức vì con cái (và tất nhiên con cái, nạn nhân chính, cũng bị vắt kiệt sức lực trong cuộc đua của các bậc phụ huynh). Vậy nhưng Đại học liệu có phải là thiên đường thực sự? Mỗi năm có hàng trăm nghìn sinh viên ra trường, nhưng bao nhiêu trong số đó có thể tìm được một công việc, chứ chưa nói đến công việc mà mình từng mơ ước? Nhiều sinh viên ra trường đã phải đi học các kỹ năng chăm sóc trẻ em, như thay tã, trông trẻ, lau dọn nhà cửa, quét dọn vệ sinh,...những công việc mà trước đây họ bị dọa sẽ phải làm nếu không vào được Đại Học. Bi kịch hơn, một số khác đã tự tìm cách giải thoát cho mình sau bao năm phấn đấu mà không thể vượt lên khỏi hoàn cảnh, họ đã buông xuôi: chán nản vì không thể tìm được việc làm và cảm thấy có lỗi khi phung phí tiền bạc của cha mẹ, Liu Wei, cô sinh viên Trung Quốc sắp tốt nghiệp đã tự kết liễu cuộc đời mình.




Chinese student Liu Wei who, consumed with guilt about her parents' financial sacrifices, took her own life


Cuốn nhật kí, di vật mà Liu để lại cho gia đình cho thấy cô đã đi từ hy vọng tràn trề đến thất vọng ê chề như thế nào. Và đó là “tấn bi kịch” mà hàng triệu sinh viên đang phải đối mặt. Đó cũng là hồi chuông đáng báo động về việc học sinh (nhất là các bậc phụ huynh) đã sai lầm thế nào khi nhất định ép con mình theo con đường mà lẽ ra chúng không bao giờ nên đi.

Nguyễn Hoàng Long


Tháng 11 năm 2006

“Tại trường, tôi nhận được một học bổng nhưng hiện gia đình vẫn phải trả tiền để tôi được học. Tôi sẽ đền đáp họ, tôi sẽ cho em trai tôi tiền để nó có thể xây một ngôi nhà. Mục tiêu của tôi là phải học tập thật chăm chỉ, kiếm được một công việc và nuôi sống gia đình tôi. Nếu tôi không làm được điều đó, cuộc sống của tôi chẳng còn ý nghĩa gì nữa”.


Tháng 9 năm 2007

“Với tôi, sinh ra trong một gia đình nghèo ở nông thôn không phải là bi kịch. Mà bi kịch sẽ là nếu tôi không thể thoát ra khỏi cuộc sống nông thôn. Tôi chắc chắn sẽ trở thành một cư dân thành thị sau khi rời giảng đường đại học”.

Tôi đã từng than phiền rằng ông Trời thật không công bằng với tôi. Ông Trời để tôi được sinh ra trong một gia đình nông dân nghèo, nhưng lúc này đây, tôi sẽ không nghĩ như vậy nữa. Gia đình đã khiến tôi trở nên mạnh mẽ và trưởng thành hơn”.


Tháng 5 năm 2008

“Tôi không thể tin được để kiếm một công việc part-time lại khó khăn đến thế. Có đến 200 sinh viên đã nộp đơn để nhận làm tiếp tân bán thời gian. Tôi không tưởng tượng được điều gì sẽ xảy ra khi tôi tốt nghiệp nữa”.


Tháng 6 năm 2008

“Hôm nay tôi đã tham dự một hội chợ việc làm. Ở đó, số lượng sinh viên đi xin việc còn gấp 10 lần nhu cầu tuyển dụng. Sau khi vượt qua đám đông hỗn loạn xô đẩy, cuối cùng tôi cũng có cơ hội nói chuyện với một nhà quản lý tuyển dụng. Nhưng anh ta chỉ muốn nhân viên bán hàng và phát triển sản phẩm, đó không phải là chuyên ngành của tôi. Tôi đã trở về nhà và cảm thấy rất căng thẳng”.


Ngày 2 tháng 9 năm 2008

“Lòng kiêu hãnh của tôi rất mạnh mẽ. Tôi đã quá chăm lo cho bản thân. Tôi đã chọn bước vào giảng đường đại học thay vì trở thành một công nhân tha phương cầu thực, nhưng hiện nay gia đình tôi đang có những khoản nợ khổng lồ còn tôi thì không thể làm được bất cứ điều gì cho họ.

Nếu lúc này tôi đang đi làm, tôi đã có thể gửi tiền về nhà và mua những món quà cho bố mẹ tôi cũng như những đứa trẻ khác ở trong làng. Tôi đã phung phí rất nhiều tiền của và rồi thậm chí không học được điều gì có ích để mang lại cho tôi một công việc. Bây giờ đây, tôi rất hối tiếc vì đã lựa chọn con đường học hành”.


Ngày 9 tháng 10 năm 2008

“Tôi là một sinh viên đại học nhưng tôi lại không thể tìm thấy một việc làm. Làm sao tôi có thể quay trở lại làng của mình sau khi tôi tốt nghiệp đại học được? Tôi cảm thấy rất mệt, tôi muốn ngủ một giấc và không bao giờ còn thức dậy nữa. Tôi sẽ làm việc ư? Ai có thể cứu tôi? Ngoài bố mẹ ra, tôi không còn luyến tiếc gì trong thế giới này nữa”.


Ngày 18 tháng 10 năm 2008 - Trang nhật kí cuối cùng

“Tại sao lại quá khó như vậy?”

–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–-–

November 2006

"At school, I had a scholarship but now my family has to pay for me to study. I have to pay them back and I have to give money to my brother so he can build a house. My goal is to study hard, get a good job and provide for my family. If I cannot do that, then it is impossible to say that I have a good life."

September 2007

"It is not tragic that I was born in a poor family in the countryside. The tragic thing will be if I cannot get out of the countryside. I am sure I can become a city resident after my studies."

"I used to complain that God was not fair to me to let me be born into a poor farmer's family, but now I will not think that way. My background can make me stronger and more mature."

May 2008

"I cannot believe it is so difficult to find a part-time job; there were 200 students applying for one part-time job as a receptionist. I cannot imagine what will happen when I graduate."

June 2008

"Today I attended a job fair. There were 10 times more students than there were companies. After pushing through the crowds, I finally got the chance to speak to a human resources manager. But all he was looking for were sales and promotion staff, which isn't suitable for me at all. I came home feeling very stressed."

September 2, 2008

"My pride is too strong. I care too much about myself. I chose to go to college instead of becoming a migrant worker, but now my family have huge debts and I can do nothing for them. If I was working, I could send money home and bring gifts for my parents like the other children in the village. I have spent lots of money and not even learned anything useful that will get me a job. Now, I regret my choice to study."

October 9, 2008

"I am a college student but I cannot find a job. How ashamed will I be when I have to go back to the village after I graduate? I feel so tired, I want to keep sleeping and never wake up. What shall I do? Who can save me? Apart from my parents, I will not miss anything in this world."

October 18, 2008 (final diary entry)

"Why so difficult?"

Windows 7: Microsoft's Road To Recovery?

Though Windows Vista was only introduced -- to tepid reviews and a host of compatibility issues -- two years ago, Microsoft has already prepared a beta version of its replacement: Windows 7, which Microsoft CEO Steve Ballmer is calling “the right product for the right time.” The beta version of the operating system will be available tomorrow at microsoft.com/windows7.

The software giant says the new version of Windows will address concerns related to slow boot times and high laptop battery usage -- both of which kept users of older Windows systems such as 2000 and XP from switching to Vista.
What do you think? Is Microsoft about to hit a home run, or just complicate things further by introducing a whole new OS to compete with Vista and XP?

What is IPv4 and IPv6



Cả hai giao thức IPv6 và IPv4, các giao thức này hiện nay đang được sử dụng khá rộng rãi. Tuy nhiên có một vài tính năng trong các hệ điều hành sẽ không làm việc trừ khi IPv6 được sử dụng. Trong trường hợp đó chúng ta nên bắt đầu tìm hiểu thêm một chút về IPv6 xem chúng làm việc như thế nào. Nếu đó không phải là một lý do đủ sức thuyết phục thì một lý do nữa là số lượng địa chỉ IPv4 có thể hoàn toàn cạn kiệt vào khoảng 2009. Chính vì vậy, chính phủ liên bang Mỹ dự kiến triển khai IPv6 đến tất cả các mạng xương sống được hoàn thành vào năm 2008.

IPv4

1. Địa chỉ IP là một tài nguyên 

Internet là một mạng máy tính toàn cầu, trong đó các “máy tính” (hay nói tổng quát là các thực thể mạng) dù nhỏ, dù to khi nối vào Internet đều bình đẳng với nhau. Đối với mạng Internet , do cách tổ chức chỉ có một cấp nên mỗi một khách hàng hay một máy chủ (Host) hoặc Router đều có một địa chỉ internet duy nhất mà không được phép trùng với bất kỳ ai. Nếu có 2 máy tính được cấu hình cùng một địa chỉ thì sẽ xảy ra mâu thuẫn IP (IP conflict) ngay. Do vậy mà địa chỉ trên Internet thực sự là một tài nguyên.

Hàng chục triệu máy chủ trên hàng trăm nghìn mạng. Để địa chỉ không được trùng nhau cần phải có cấu trúc địa chỉ đặc biệt quản lý thống nhất và một Tổ chức của Internet gọi là Trung tâm thông tin mạng Internet NIC chủ trì phân phối. NIC chỉ phân địa chỉ mạng (Net ID) còn địa chỉ máy chủ trên mạng đó (Host ID) do các Tổ chức quản lý Internet của từng quốc gia một tự phân phối.

Chú ý rằng 1 địa chỉ IP không phải tương ứng với một máy tính mà tương ứng với một network interface card. Đơn giản ví dụ một máy tính có một giao diện mạng nối kết với cáp Ethernet và một giao diện wifi nối kết wifi thì cùng lúc máy tính ấy có 2 địa chỉ IP khác nhau.

IP của bạn là duy nhất trên thế giới. Tuy nhiên địa chỉ này chưa hẳn là cố định. Nếu bạn vào mạng qua một ISP thì số IP của bạn sẽ thay đổi ở các lần bạn kết nối. Một người biết IP của bạn thì có thể lần ra vị trí của bạn. Nghĩa là khi có IP thì biết được địa chỉ của ISP rồi biết được thông tin của bạn. Trên thực tế, IP cho biết về máy tính được sử dụng để vào mạng chứ không cho biết thông tin về người sử dụng, trừ khi IP của bạn là cố định hoặc sử dụng account của riêng bạn. Để biết địa chỉ IP là thuộc ISP nào, ở đâu, bạn có thể tra cứu trên whois.com.

2. Cấu trúc địa chỉ IP

Địa chỉ IP đang được sử dụng hiện tại (IPv4) có 32 bit chia thành 4 Octet (mỗi Octet có 8 bit, tương đương 1 byte) cách đếm đều từ trái qua phải bít 1 cho đến bít 32, các Octet tách biệt nhau bằng dấu chấm (.). VD 1 địa chỉ IP như sau: 196.84.156.67. Địa chỉ IP được chia thành 4 số giới hạn từ 0 – 255 (vì 255 tương đương 11111111 (ở hệ nhị phân) là số lớn nhất có 8 bit).

Địa chỉ IP chia ra 5 lớp A,B,C, D, E. Hiện tại đã dùng hết lớp A,B và gần hết lớp C, còn lớp D và E Tổ chức internet đang để dành cho mục đích khác không phân, nên chúng ta chỉ nghiên cứu 3 lớp đầu. Bit nhận dạng là những bit đầu tiên – của lớp A là 0, của lớp B là 10, của lớp C là 110. Lớp D có 4 bit đầu tiên để nhận dạng là 1110, còn lớp E có 4 bít đầu tiên để nhận dạng là 1111. Do đó địa chỉ ví dụ ở trên bắt đầu bằng 11000100 nên thuộc lớp C.

Một địa chỉ IP được phân biệt bởi hai phần, phần đầu gọi là Network ID (địa chỉ mạng) và phần sau là Host ID. Ví dụ đối với lớp A (có địa chỉ từ 0.0.0.0 đến 127.0.0.0 ), bit thứ nhất là bit nhận dạng lớp A = 0, 7 bit còn lại trong Octet thứ nhất dành cho địa chỉ mạng, 3 Octet còn lại có 24 bit dành cho địa chỉ của máy chủ. Do vậy, trên lớp A, có thể phân cho 126 mạng khác nhau, và mỗi mạng có thể có tối đa 16777214 máy host.


IPv6

Sự khác nhau đáng kể nhất giữa IPv4 và IPv6 là chiều dài của địa chỉ nguồn và địa chỉ của chúng. Việc chuyển sang sử dụng IPv6 là do ngày càng thiếu về số địa chỉ IP. Giao thức IPv6 này có một không gian địa chỉ lớn hơn so với giao thức IPv4. Giao thức IPv4 sử dụng một địa chỉ nguồn và địa chỉ đích là 32bit. Các địa chỉ này được biểu diễn thành bốn phần. Một địa chỉ IPv4 điển hình có dạng như 192.168.0.1.

Tương phản với IPv4, địa chỉ IPv6 có chiều dài là 128bit. Điều đó cho phép có thể biểu diễn đến 3.4×1038 (340.000.000.000.000.000.000.000.000.000.000.000.0 00) địa chỉ. Có một vài sự khác nhau trong cách biểu diễn địa chỉ của IPv6. Một địa chỉ IPv6 thường được viết thành 8 nhóm, mỗi nhóm gồm có 4 số hex và mỗi nhóm được tách biệt với nhau bằng dấu “:”. Ví dụ như sau thể hiện điều này 2001:0f68:0000:0000:0000:0000:1986:69af.

Bạn đang xem xét địa chỉ mẫu ở trên và nghĩ rằng việc đánh một địa chỉ IPv6 phải rất mất thời gian và công sức? Nhưng không phải như vậy, địa chỉ IPv6 chỉ có thể được viết vắn tắt bằng việc giảm thiểu các số 0. Có hai nguyên tắc phải tuân theo ở đây khi biểu diễn một địa chỉ IP. Đầu tiên, một dãy bốn số 0 liên tục có thể được thay thế bằng hai dấu “::”. Bằng cách đó địa chỉ IPv6 ở trên có thể được viết tắt như sau:
2001:0f68::0000:0000:0000:1986:69af 

Trong ví dụ ở trên, chúng ta chỉ có thể ước lượng một khối các chữ số 0 bởi vì nguyên tắc này phát biểu rằng chỉ có một cặp “::” trong một địa chỉ. Rõ ràng, địa chỉ mà đang ví dụ ở trên vẫn còn rất nhiều chữ số cần phải đánh. Tuy nhiên, nguyên tắc thứ hai sẽ cho phép bạn thực hiện địa chỉ này ngắn hơn. Nguyên tắc thứ hai nói rằng, các số 0 trong một nhóm có thể được bỏ qua. Nếu một khối 4 số bắt đầu của nó là số 0 thì số 0 này có thể được lược bỏ bớt để lại là 3 số 0 trong khối. Nếu khối ba số đó cũng lại bắt đầu với một số 0 đứng đầu thì ta có thể tiếp tục loại bỏ. Và cứ như vậy đến khi gặp số khác 0 trong nhóm thì dừng. Trường hợp nếu 4 số trong nhóm đều là 0 thì số được giữ lại cuối cùng là một số 0. Nếu cứ nói mãi mà không biểu diễn trong ví dụ cụ thể để các bạn dễ theo dõi thì đó là một thiếu sót. Dưới đây là những gì mà chúng ta có thể áp dụng cả hai nguyên tắc đó cho địa chỉ ví dụ:
2001:0f68:0000:0000:0000:0000:1986:69af
2001:f68:000:000:000:000:1986:69af
2001:f68:00:00:00:00:1986:69af
2001:f68:0:0:0:0:1986:69af
2001:f68::1986:69af 

Lưu ý rằng trong mỗi dòng, chúng tôi đã lược bỏ bớt một số 0 trong mỗi nhóm. Khi mà các phần còn lại là các con số 0 chúng ta lại có thể áp dụng thay thế 4 số 0 liên tiếp bằng hai dấu “::”. Điều này chỉ có thể thực hiện được nếu bốn số 0 đi liền nhau mà thôi. Nếu không thỏa mãn điều kiện đó thì chúng ta phải để nguyên các số 0.

Sử dụng các địa chỉ IPv6 trong URL

Mặc dù các máy chủ DNS có thể truy cập vào một website bằng cách sử dụng tên miền thay cho sử dụng một địa chỉ IP, nhưng bạn vẫn có thể vào một địa chỉ IP thay cho một phần của một URL. Ví dụ, một website cá nhân sử dụng URL là www.tenmien.com, tương ứng với nó là địa chỉ IP 24.235.10.4. Với địa chỉ IP như vậy, tôi hoàn toàn có thể truy cập vào website bằng cách nhập vào URL: http://24.235.10.4

Hầu hết những người lướt web thường không sử dụng thói quen nhập vào địa chỉ IP. Tuy vậy, việc truy cập theo kiểu này vẫn tồn tại. Điều này đặc biệt đúng với các ứng dụng web riêng lẻ. Khi không liên quan đến một tên miền, một ứng dụng có khả năng tránh được người dùng trái phép dò dẫm và nhảy vào ứng dụng của bạn một cách tình cờ.

Khi một địa chỉ IP được sử dụng thay thế cho một tên miền, thì số cổng đôi lúc được chỉ định như một phần của địa chỉ. Nếu bạn chỉ đơn giản nhập vào sau HTTP:// sau đó là một địa chỉ thì trình duyệt sẽ thừa nhận rằng bạn muốn sử dụng cổng 80. Mặc dù vậy, bạn có thể chỉ định bất kỳ cổng nào để truy cập đến website, ví dụ nếu bạn muốn truy cập đến website www.tenmien.com bằng địa chỉ IP và cụ thể là cổng 80 được sử dụng thì lệnh nên dùng đó là http://24.235.10.4:80

Giao thức IPv6 cũng vậy, nó cũng được sử dụng như một phần của một URL. Nhưng nếu quan tâm đến định dạng IPv6 thì bạn nên lưu ý rằng một địa chỉ IPv6 gồm có rất nhiều dấu “:”. Điều này đã nảy sinh một vấn để khi trình duyệt của bạn xử lý bất cứ những cái gì đó phía sau dấu “:” như một số chỉ thị của cổng. Trong trường hợp đó, các địa chỉ IPv6 được phân biệt bên trong dấu ngoặc khi chúng được sử dụng như một phần của URL. Ví dụ: nếu bạn đã sử dụng địa chỉ IPv6 mẫu trong một URL thì nó sẽ giống như thế này:
HTTP://[2001:0f68:0000:0000:0000:0000:1986:69af]/ 

Giống như có thể chỉ định số của cổng với địa chỉ IPv4, bạn cũng có thể chỉ định số cổng khi sử dụng địa chỉ IPv6. Số cổng phải đi sau cùng một định dạng bắt buộc như khi sử dụng IPv4. Và ở bên ngoài các dấu ngoặc. Ví dụ, nếu bạn muốn truy cập vào website tại địa chỉ IPv6 mẫu trên theo cổng 80 thì URL nhập vào sẽ như sau:
HTTP://[2001:0f68:0000:0000:0000:0000:1986:69af]:80/ 

Lưu ý rằng số của cổng trong trường hợp này là 80, nằm giữa dấu đóng ngoặc và dấu sổ. Một dấu “:” cũng được sử dụng để định rõ số cổng như trong giao thức IPv4.

Định dạng địa chỉ của IPv6

Nếu đã quen với IPv4 thì bạn phải biết rằng một địa chỉ IPv4 gồm có 4 phần, mỗi phần được phân biệt với nhau bằng dấu chấm. Một phần trong địa chỉ này biểu thị số mạng và các bit còn lại dùng để phân biệt một host cụ thể trên mạng. Số của các bit thực được thiết kế cho số mạng và số host khác nhau phụ thuộc vào subnet mask.

Một địa chỉ IPv4 được chia thành các phần khác nhau, trong địa chỉ IPv6 cũng vậy. Trong bài trước, bạn đã biết được về các địa chỉ IPv6 có 128 bit chiều dài. Khi một địa chỉ IPv6 được viết theo dạng đầy đủ, nó được diễn tả thành 8 phần khác nhau, mỗi phần có 4 số và được phân tách bằng dấu “:”. Mỗi phần có 4 chữ số này biểu thị 16 bit dữ liệu, mỗi trường 16 bit này lại được sử dụng cho các mục đích riêng biệt.

Cụ thể, mỗi một địa chỉ IPv6 được phân thành ba phần khác nhau đó là: site prefix, subnet ID, interface ID. Ba thành phần này được nhận dạng bởi vị trí của các bit bên trong một địa chỉ. Ba trường đầu tiên trong IPv6 được biểu thị site prefix, trường tiếp theo biểu thị subnet ID còn 4 trường cuối biểu thị cho interface ID.

Site prefix cũng giống như số mạng của IPv4. Nó là số được gán đến trang của bạn bằng một ISP. Điển hình, tất cả các máy tính trong cùng một vị trí sẽ được chia sẻ cùng một site prefix. Site prefix hướng tới dùng chung khi nó nhận ra mạng của bạn và cho phép mạng có khả năng truy cập từ Internet.

Không giống như site prefix, subnet ID mang tính riêng bởi vì nó ở bên trong mạng của bạn, subnet ID miêu tả cấu trúc trang của mạng. Subnet ID làm việc rất giống với cách mà mạng con làm việc trong giao thức IPv4. Sự khác nhau lớn nhất ở đây là các mạng có đó có thể dài 16 byte là được biểu thị trong định dạng hex nhiều hơn là ký hiệu chữ thập phân có nhiều dấu chấm. Một IPv6 subnet điển hình tương đương với một nhánh mạng đơn (trang) như một subnet của IPv4.

Interface ID làm việc giống như một ID cấu hình IPv4. Số này nhận dạng duy nhất một host riêng trong mạng. Interface ID (thứ mà đôi khi được cho như là một thẻ) được cấu hình tự động điển hình dựa vào địa chỉ MAC của giao diện mạng. ID giao diện có thể được cấu hình bằng định dạng EUI-64.

Để xem một địa chỉ IPv6 được phân chia như thế nào thành các phần con khác nhau của nó, bạn hãy quan sát đến địa chỉ dưới đây:
2001:0f68:0000:0000:0000:0000:1986:69af 
Phần site prefix của địa chỉ này là: 2001:0f68:0000. Trường tiếp theo là 0000 biểu thị subnet ID. Các byte còn lại (0000:0000:1986:69af) biểu thị interface ID.

Điển hình khi một tiền tố được biểu diễn, nó được viết trong một định dạng đặc biệt. Các số 0 trong đó đã giải thích trong bài viết trước và các tiền tố được theo sau bởi một dấu sổ và số. Số sau dấu sổ chỉ số lượng của các bit trong tiền tố. Trong ví dụ trước tôi đã đề cập đến site prefix cho địa chỉ 2001:0f68:0000:0000:0000:0000:1986:69af là 2001:0f68:0000. Khi tiền tố này có chiều dài 48 bit thì chúng ta nên thêm vào đó a /48 để kết thúc nó hợp thức. Với các con số 0 đã bỏ, tiền tố đó sẽ viết như sau: 2001:f68::/48

Các loại địa chỉ IPv6

IPv6 có ba loại địa chỉ khác nhau: Unicast, Multicast và Anycast.

Địa chỉ Unicast được sử dụng để phân biệt các host đơn lẻ trên một mạng. Các địa chỉ Multicast lại sử dụng để phân biệt một nhóm các giao diện mạng cư trú điển hình trong các máy tính phức hợp. Khi một gói dữ liệu được gửi đến địa chỉ multicast thì gói đó được gửi đến tất cả các giao diện mạng trong nhóm multicast.

Giống như các địa chỉ multicast, các địa chỉ anycast cũng phân biệt một nhóm cụ thể các giao diện mạng thường cư trú trong các máy tính phức hợp. Vậy cái gì tạo tuyến anycast khác với một nhóm multicast? Khi các gói được gửi đi đến một địa chỉ multicast chúng được gửi đến tất cả các giao diện mạng trong nhóm. Trái ngược với điều đó, khi các gói dữ liệu được gửi đi đến một địa chỉ anycast thì các gói này không gửi đến toàn bộ nhóm mà thay vì đó chúng chỉ được gửi đến thành viên gần nhất về mặt vật lý với người gửi.

Các địa chỉ Unicast

Chúng tôi đã giới thiệu cho các bạn định dạng của một địa chỉ IPv6 và những vị trí bit khác nhau được sử dụng. Quả thực có hai loại địa chỉ unicast khác nhau đó là: toàn cục và liên kết cục bộ. Một địa chỉ unicast toàn cục có thể truy cập rộng rãi trong khi đó địa chỉ unicast liên kết cục bộ chỉ có thể truy cập đến các máy tính khác mà chia sẻ liên kết. Định dạng địa chỉ IP mà tôi đã giới thiệu cho các bạn ở phần trước là một địa chỉ unicast toàn cục. Chúng tôi đã nói về loại địa chỉ này bởi vì nó là loại địa chỉ chung nhất.

Các địa chỉ unicast liên kết cục bộ đã sử dụng một định dạng địa chỉ khác với các địa chỉ unicast toàn cục. Giống như các địa chỉ unicast toàn cục, các địa chỉ unicast liên kết cục bộ cũng gồm 128 byte chiều dài. Sự khác nhau ở hai loại này là các byte được phân phối khác nhau và địa chỉ sử dụng một site prefix đặc biệt.

Trong một địa chỉ unicast liên kết nội bộ, một site prefix chiếm 10 bit đầu tiên của địa chỉ thay vì 48 bit đầu như trong trường hợp của địa chỉ unicast toàn cục. Site prefix được sử dụng bằng một địa chỉ unicast liên kết cục bộ là: fe80.

Khi site prefix được viết ngắn lại (so với một địa chỉ unicast toàn cục), bạn có thể không ngạc nhiên khi thấy rằng số lượng của không gian chỉ định trong subnet ID đã được mở rộng từ 16 bit thành 64 bit. Những gì ở đây là 64 bit đó không thực sự được sử dụng. Nhớ rằng một địa chỉ IP liên kết cục bộ chỉ hợp lệ cho các máy tính đang chia sẻ một liên kết chung. Như vậy, không có lý do nào để cần phải có một subnet ID. 64 bit của không gian địa chỉ mà được dành riêng cho subnet ID được biểu diễn như những số 0.

Interface ID cho một địa chỉ unicast liên kết cục bộ có chiều dài 54 bit. Interface ID hầu như luôn được bắt nguồn từ 48 bit địa chỉ MAC đã gán vào card giao diện mạng để giao thức được phân danh giới. Dưới đây là một ví dụ về một địa chỉ unicast liên kết cục bộ.
Fe80:0000:0000:0000:0000:0000:23a1:b152 

Tất nhiên khi các địa chỉ IPv6 được viết ra thì chúng thường được diễn tả với một loạt con số 0 đã bị triệt tiêu. Chính vì vậy, một công thức viết tắt đúng kỹ thuật địa chỉ này là:
Fe80::23a1:b152 

Khi các địa chỉ đã diễn tả với các số 0 đã bị triệt tiêu, thì địa chỉ đầu tiên trông giống như bất kỳ địa chỉ IPv6 nào. Nhớ rằng bạn có thể nói được sự khác nhau giữa một địa chỉ unicast liên kết cục bộ với các địa chỉ khác bởi vì một địa chỉ unicast cục bộ sẽ luôn luôn bắt đầu với fe80.

Các địa chỉ multicast và anycast

Các địa chỉ multicast chỉ nhận một nhóm giao diện mạng cư trú điển hình trên các máy tính phức hợp. Khi một gói dữ liệu được gửi đến địa chỉ multicast thì gói đó được gửi đến tất cả các giao diện mạng trong nhóm multicast. Giống như địa chỉ multicast, các địa chỉ anycast cũng nhận dạng một nhóm cụ thể các giao diện mạng thường cư trú trên những máy tính phức hợp. Sự khác nhau ở đây là khi gói được gửi đến địa chỉ multicast, chúng được gửi đến tất cả các giao diện mạng (nút mạng) trong nhóm. Ngược lại, khi gói dữ liệu được gửi đến một địa chỉ anycast thì các gói này không được gửi đến toàn bộ nhóm và thay vào đó chúng chỉ được gửi đến thành viên gần nhất về mặt vật lý với người gửi.

Như bạn thấy, thực sự có một chút khá giống nhau giữa hai địa chỉ multicast và anycast. Trong bài viết này chúng tôi sẽ kết luận loạt bài này bằng việc thảo luận chi tiết hơn về multicast và anycast.

Địa chỉ Multicast

Như chúng tôi đã giải thích ở phần trên, các địa chỉ multicast được sử dụng để nhận dạng một nhóm các giao diện mạng, được biết đến như một nhóm multicast. Các giao diện mạng điển hình được định vị trên các máy tính phức hợp nhưng đây không phải là một thiết bị thuần túy. Các địa chỉ multicast được sử dụng để gửi thông tin đến bất kỳ giao diện mạng nào đã được định nghĩa thuộc về nhóm multicast.

Một trong những điều thú vị nhất về các địa chỉ multicast đó là chúng hoàn toàn riêng biệt, một giao diện mạng có một địa chỉ multicast không có nghĩa là máy đó không thể có một địa chỉ unicast hoặc là nằm trong các nhóm multicast khác Trong thực tế, một vài hệ điều hành đã thêm vào đó một adapter mạng của máy tính đối với các nhóm multicast khác nhau tại thời điểm địa chỉ unicast của adapter được định nghĩa. Ví dụ: hệ điều hành Solaris tự động thêm vào các adapter mạng vào nút Solicited và các nhóm multicast tất cả các nút (hoặc tất cả các router). Trong trường hợp bạn không quen với Solaris, nhóm nút Solicited được sử dụng cho việc phát hiện ra IPv6 khác đã kích hoạt các thiết bị trên mạng. Windows Vista cũng có một chức năng tương tự.

Chúng tôi đã giải thích cho các bạn nghe về các địa chỉ multicast được sử dụng cho những địa chỉ multicast trông như thế nào. Mặc dù một địa chỉ IPv6 dài 128 bit nhưng 8 bit đầu tiên của địa chỉ lại định nghĩa cho địa chỉ multicast. Mỗi một địa chỉ multicast sử dụng một định dạng tiền tố là 11111111. Khi được biểu diễn trong ký hiệu hex và “:” thì một địa chỉ multicast luôn luôn bắt đầu bằng FF.

Bốn bit tiếp theo của địa chỉ multicast là các bit cờ (flag). Tại thời điểm hiện tại, ba bit đầu trong nhóm bốn bit là không dùng đến (chính vì vậy chúng được thiết lập là 0). Bit cờ thứ tư được biết đến như một bit nốt đệm. Nhiệm vụ của nó là để biểu thị xem địa chỉ đó là một địa chỉ tạm thời hay thường xuyên. Nếu địa chỉ đó là địa chỉ thường xuyên thì bit này sẽ được gán bằng 0 còn ngược lại nó sẽ được gán bằng 1.

Bốn bit tiếp theo trong địa chỉ multicast được biết đến như các bit ID Scope. Số lượng của không gian dự trữ cho các bit Scope ID là 4 bit, điều đó có nghĩa là có 16 giá trị khác nhau được biểu thị. Mặc dù không phải tất cả 16 giá trị đều được sử dụng tại thời điểm hiện tại, 7 trong số các giá trị đó được sử dụng để xác định phạm vi của địa chỉ. Ví dụ: nếu một địa chỉ có phạm vi toàn cầu thì địa chỉ là hợp lệ trên toàn bộ Internet. Hiện tại đã sử dụng các bit Scope ID như sau:


112 bit còn lại được sử dụng cho nhóm ID. Kích thước của nhóm ID cho phép các địa chỉ multicast dùng hết 1/256 phần không gian địa chỉ của IPv6.

Để đặt lược đồ địa chỉ này trong phần sắp tới, chúng tôi cho bạn xem một số địa chỉ multicast được sử dụng thường xuyên nhất:
FF0×0:0:0:0:0:1 

Đây là một multicast cho tất cả các nút. Bạn có thể phải lưu ý đến chữ “x” trong địa chỉ, nó không phải là một kí tự hệ số hex. Nó là một trình giữ chỗ cho phạm vi. Địa chỉ cụ thể này có thể sử dụng phạm vi nút nội bộ (FF01:0:0:0:0:0:1) hoặc phạm vi liên kết nội bộ (FF02:0:0:0:0:0:1).
FF0x:0:0:0:0:0:2 

Địa chỉ multicast này được gán cho tất cả các router bên trong phạm vi đã định nghĩa. Ở đây cũng có kí tự “x”, nó cũng có chức năng tương tự. Các phạm vi hợp lệ là nút nội bộ (FF01:0:0:0:0:0:2), liên kết nội bộ (FF02:0:0:0:0:0:2) và trang nội bộ (FF05:0:0:0:0:0:2).

Địa chỉ Anycast

Nếu đã nghiên cứu giao thức IPv4 thì bạn có thể biết được rằng các khái niệm của unicast và multicast cũng tồn tại ở IPv4, mặc dù vậy ở IPv6 chúng được bổ sung nhiều vấn đề khác. Anycast là duy nhất với IPv6. Anycast làm việc giống như một sự kết hợp các địa chỉ unicast và multicast. Một địa chỉ unicast được sử dụng để gửi dữ liệu đến một người nhận cụ thể nào đó, một địa chỉ multicast được sử dụng để gửi dữ liệu đến một nhóm người nhận còn một địa chỉ anycast thì được sử dụng để gửi dữ liệu đến một người nhận cụ thể ở ngoài nhóm người nhận.

Trong trường hợp bạn đang phân vân rằng anycast được tạo như một cách làm cân bằng tải trở lên dễ dàng hơn. Hãy hình dung một tình huống bạn cần cung cấp một số lượng lớn người dùng để họ có thể truy cập đến các dịch vụ hoặc đến một router của họ. Trong tình huống như vậy thì nó thường làm cho bạn phải sử dụng nhiều máy chủ để cấu hình dịch vụ đang được cung cấp hoặc sử dụng các router phức hợp hay bất cứ trường hợp nào có thể. Lý do ở đây là vì nó có thể cho phép phân phối luồng công việc giữa các thiết bị phức hợp.

Loại cân bằng tải này thực hiện rất khó khăn nếu sử dụng Ipv4 (mặc dù nó đã được thực hiện). Siệc sử dụng các địa chỉ anycast với IPv6 sẽ cho hiệu quả tuyệt đối với việc cân bằng tải. Bạn cần gửi một yêu cầu người dùng đến một trong những thiết bị, trong khi không thể quan tâm đến các thiết bị đã được chỉ định quản lý yêu cầu mà chỉ là yêu cầu phải được quan tâm. Bằng việc sử dụng các địa chỉ anycast, mỗi yêu cầu sẽ tự động gửi đến thiết bị gần nhất về mặt địa lý đến máy tính đưa ra yêu cầu. Trong một số tình huống, anycast thậm có thể được sử dụng để cung cấp lỗi dung sai cho một router lỗi. Lỗi có thể được phát hiện và các yêu cầu có thể được gửi lại vòng qua một router khác lân cận.

Vấn đề kỳ lạ nhất với các địa chỉ anycast là không có lược đồ định địa chỉ đặc biệt nào. Với những gì trong bài viết này, bạn đã thấy được có rất nhiều loại nguyên tắc bao trùm sử dụng và cấu trúc của các địa chỉ unicast và multicast là để gán cùng một địa chỉ unicast cho các host phức hợp. Với cách làm như vậy các địa chỉ unicast trở thành một địa chỉ anycast.

Kết luận 

Trong loạt bài viết này, chúng tôi đã cố gắng lướt qua một cách cơ bản về giao thức IPv6. Hầu hết các quản trị viên có thể không cần phải trở thành các chuyên gia ngay lập tức nhưng IPv6 là một thành phần cần thiết trong Windows Vista, Longhorn Server, Windows 7,.... Chính vì vậy, chúng ta tìm hiểu để biết chút ít về nó là một việc làm cần thiết.

(Theo Networking)