Showing posts with label anti-spyware. Show all posts

Virus Total: free online virus-scanning service with 40 engines



Một vài dịch vụ trực tuyến cho phép bạn kiểm tra các file để phát hiện virus hay các mã độc khác bằng cách upload các file trên máy mà bạn muốn kiểm tra. Lý do khiến bạn có thể cần sử dụng dịch vụ này là khi bạn sắp sửa cài đặt hay sử dụng một file nào đó, nhưng không chắc chắn rằng file đó an toàn, hoặc hệ thống của bạn chưa cài phần mềm diệt virus, hay thậm chí là bạn nghi ngờ phần mềm diệt virus của mình đã bỏ sót mã độc trên một file nào đó. Một trong các dịch vụ hiệu quả và phổ biến nhất hiện nay là "Virus Total".

Virus Total là một dịch vụ độc lập, miễn phí, giúp phân tích các file được upload lên với khoảng 40 cỗ máy phát hiện virus khác nhau, bao gồm:
AhnLab (V3)
Antiy Labs (Antiy-AVL)
Aladdin (eSafe)
ALWIL (Avast! Antivirus)
Authentium (Command Antivirus)
AVG Technologies (AVG)
Avira (AntiVir)
Cat Computer Services (Quick Heal)
ClamAV (ClamAV)
Comodo (Comodo)
CA Inc. (Vet)
Doctor Web, Ltd. (DrWeb)
Emsi Software GmbH (a-squared)
Eset Software (ESET NOD32)
Fortinet (Fortinet)
FRISK Software (F-Prot)
F-Secure (F-Secure)
G DATA Software (GData)
Hacksoft (The Hacker)
Hauri (ViRobot)
Ikarus Software (Ikarus)
INCA Internet (nProtect)
K7 Computing (K7AntiVirus)
Kaspersky Lab (AVP)
McAfee (VirusScan)
Microsoft (Malware Protection)
Norman (Norman Antivirus)
Panda Security (Panda Platinum)
PC Tools (PCTools)
Prevx (Prevx1)
Rising Antivirus (Rising)
Secure Computing (SecureWeb)
BitDefender GmbH (BitDefender)
Sophos (SAV)
Sunbelt Software (Antivirus)
Symantec (Norton Antivirus)
VirusBlokAda (VBA32)
Trend Micro (TrendMicro)
VirusBuster (VirusBuster)
Họ luôn cập nhật các cỗ máy tìm kiếm virus này với cơ sở dữ liệu nhận dạng virus mới nhất, và họ cũng luôn cung cấp các kết quả chi tiết trong báo cáo sau khi phân tích. Hiện nay, Virus Total hỗ trợ khoảng 26 ngôn ngữ khác nhau, trong đó chưa có tiếng Việt, nhưng họ đã nhận được lời đề nghị và hy vọng là sẽ sớm có ngôn ngữ tiếng Việt trong tương lai gần.

Để sử dụng dịch vụ này, bạn chỉ cần truy cập vào trang chủ, ấn nút Choose File để chọn file mà bạn muốn quét, sau đó ấn nút Send File rồi đợi một lát để file đó được upload lên. Sau đó, Virus Total sẽ tự động quét file và hiển thị kết quả ngay bên dưới. Kết quả được trình bày rất rõ ràng và chi tiết, còn kèm theo cả đường link tới trang chủ của cỗ máy quét virus, nếu virus được file hiện trong file đã upload lên.

Ấn nút Choose File để chọn file muốn quét, sau đó ấn nút Send File...

...rồi đợi một lát để file được upload.

Kết quả sẽ được hiển thị sau khi quá trình quét file hoàn tất.

Click vào hình để xem kích thước lớn

Trên hình là ví dụ về việc upload một file có nhiễm virus và kết quả sau khi quét bằng Virus Total.

Nếu bạn thường xuyên sử dụng Virus Total, và muốn quá trình kiểm tra file dễ dàng hơn, bạn có thể sử dụng phần mềm Virus Total Uploader, đây là một công cụ miễn phí của Virus Total giúp người dùng có thể upload trực tiếp file trên hệ thống lên máy chủ để kiểm tra mà không cần truy cập vào trang chủ Virus Total. Download Virus Total Uploader tại đây.




Sau khi cài đặt, Virus Total Uploader sẽ đặt một lệnh tại trình đơn ngữ cảnh Send to (khi bạn click chuột phải vào file hay folder muốn quét). Các file và folder mà bạn muốn quét sẽ được upload trực tiếp từ Windows mà không cần truy cập vào trang chủ. Sau khi quá trình upload và quét file hoàn tất, kết quả sẽ được hiển thị trên trình duyệt mặc định của hệ thống.



Nếu bạn không sử dụng lệnh tắt từ trình đơn ngữ cảnh, mà mở cửa sổ chính của chương trình Virus Total Uploader từ Start Menu hoặc Desktop, bạn sẽ có thêm các tùy chọn như sau:

  • Upload process executable: Chọn trực tiếp các ứng dụng đang chạy trên hệ thống để upload.
  • Select file(s) and upload: Chọn các file trên máy để upload.
  • Get and upload: gõ địa chỉ file trên mạng mà bạn muốn upload.

 

VB100: RAP (reactive/proactive) testing - April 2010

Như đã giới thiệu trong bài viết cuối năm ngoái của tôi, từ tháng 2/2009, VB100 sẽ thực hiện các bài thử nghiệm RAP (reactive/proactive) theo định kỳ 2 tháng, mà chúng ta sẽ tạm gọi là bài kiểm tra đo khả năng phản ứng nhanh/bảo vệ tiên phong. Thử nghiệm RAP của VB100 sẽ đo khả năng phản ứng và bảo vệ đón đầu chống lại các mã độc xuất hiện trên toàn thế giới. Các thử nghiệm này được tiến hành thông qua 4 bộ mẫu riêng biệt. 3 bộ mẫu đầu chứa các mã độc được thu thập trong mỗi tuần trước thời hạn giao nộp sản phẩm tham gia thử nghiệm. Những thử nghiệm này sẽ đo khả năng phản ứng nhanh của các nhà phát triển sản phẩm với dòng mã độc ổn định xuất hiện trên toàn thế giới. Kết quả của các thử nghiệm này đã được VB100 công bố hồi đầu tháng 4/2010. Bộ mã độc thứ 4 bao gồm các mã độc lần đầu xuất hiện, được thu thập vào tuần ngay sau hạn chót nộp sản phẩm tham gia thử nghiệm, giúp đánh giá khả năng phát hiện đón đầu các mã độc mới, chưa được nhận dạng, dựa vào phép nghiệm suy và phân tích chủng loại.

Như vậy, trong 2 loại thử nghiệm mà VB100 thực hiện, thì tôi cho rằng thử nghiệm RAP có ý nghĩa thực tế hơn, vì tuy nó sử dụng bộ mẫu nhỏ hơn so với thử nghiệm VB100, nhưng những mẫu mã độc dùng trong thử nghiệm mới hơn và là những mẫu mã độc hiện đang tồn tại và lây nhiễm trên toàn thế giới. Để các bạn hiểu rõ hơn về thử nghiệm RAP, tôi sẽ giới thiệu chi tiết về thử nghiệm này của VB100. Sự khác nhau giữa các phòng thử nghiệm phần mềm diệt virus có thể đọc kỹ hơn tại đây.

Về thử nghiệm RAP của VB100

Thử nghiệm đo khả năng phản ứng (Reactive)

Sau khi xác định thời hạn nộp sản phẩm cho bài đánh giá so sánh, Virus Bulletin sẽ biên soạn một bộ sưu tập các mẫu phần mềm độc hại được gặp lần đầu tiên trong mỗi trong ba tuần trước ngày hạn chót. Chúng được gọi là "tuần -3", "tuần -2" và "tuần -1". Những mẫu thử nghiệm này sẽ được sử dụng cho bài kiểm tra đánh giá so sánh khả năng "phản ứng" của các phần mềm; nó cho biết các nhà phát triển sản phẩm và các phòng thí nghiệm có thể làm tốt tới đâu trong việc bắt kịp sự phát triển ổn định và vững chắc của các phần mềm độc hại mới đang xuất hiện từng ngày trên khắp thế giới. Hầu hết các mẫu đều nằm trong các tập hợp được thu thập hàng ngày, được chia sẻ giữa các phòng thí nghiệm và các tổ chức đáng tin cậy. Chúng thường được coi như mức ưu tiên cao, và do đó các phòng thí nghiệm phần mềm độc hại có uy tín nhất cần phải có quyền truy cập vào các mẫu ngay khi chúng ta thấy chúng, nếu không muốn nói là trước cả khi chúng ta thấy chúng. Việc xác định xem liệu các sản phẩm diệt virus có thể đương đầu với các mã độc hay không, và nếu cần, xem xét thêm cả khả năng phát hiện mã độc, là mục tiêu chính của thử nghiệm.

Mức ưu tiên cũng là một vấn đề chính ở đây, và một số phòng thí nghiệm có lẽ hoàn toàn đúng khi coi khả năng phát hiện được toàn bộ những thứ nguy hiểm và đặc biệt phổ biến là quan trọng hơn so với việc nhắm vào mục tiêu mơ hồ là các trojan, thứ mà hầu như không có khả năng xuất hiện trở lại. Để khắc phục điều này, Virus Bulletin đã thực hiện một số ưu tiên của riêng họ, quá trình lựa chọn mẫu từ các dữ liệu phổ biến được họ thu thập từ nhiều nguồn, mục đích là để thu thập được những thứ quan trọng nhất. Điều này không phải là một nhiệm vụ đơn giản; các dữ liệu phổ biến tồn tại ở nhiều dạng, và chúng ngày càng khó khăn trong việc phân loại, do các họ gia đình và tên nhóm biến thể ngày càng trở nên mơ hồ và chung chung.

Bài kiểm tra thử nghiệm thứ hai của Virus Bulletin bao gồm một số so sánh giữa những tỷ lệ phát hiện đạt được khi quét toàn bộ mẫu thử và khi chỉ quét những mẫu được xác định là đặc biệt phổ biến. Thử nghiệm này đã thu được một số kết quả rất thú vị. Tuy nhiên, một phần lý do của việc lọc các mẫu thử đầu vào theo mức độ phổ biến là nhằm giảm thiểu lượng mẫu thử đầu vào đến một mức độ có thể quản lý được, giúp cho chúng có thể được kiểm tra và xác nhận trong một khoảng thời gian ngắn, do đó các kết quả này sẽ không thích hợp khi so sánh một cách toàn diện.

Thử nghiệm đo khả năng bảo vệ tiên phong (Proactive)

Nhánh thứ hai trong bài kiểm tra mới này là góc độ chủ động. Ngoài các bộ mẫu được thu thập trước hạn nộp sản phẩm một tuần và được sử dụng trong ba bài kiểm tra trước, một bộ mẫu thứ tư sẽ được thu thập vào tuần ngay sau hạn nộp sản phẩm ("tuần +1"). Bộ này bao gồm chủ yếu các mẫu chưa gặp trong các phòng thí nghiệm tại thời điểm nộp sản phẩm, và do đó sẽ không được sử dụng trong thử nghiệm phát hiện mục tiêu. Mục đích của thử nghiệm này là để đánh giá khả năng phát hiện các mẫu mã độc mới và chưa biết của sản phẩm một cách chủ động, bằng cách sử dụng các kỹ thuật nghiệm suy và phân tích loại. So sánh kết quả của "tuần +1" với kết quả của ba tuần trước đó sẽ cung cấp một cái nhìn sâu sắc vào mức độ chủ động tương phản với sự phản ứng nhanh của các nhà cung cấp.

Đây là một bước tiến đáng kể trong thử nghiệm so sánh của VB, trong đó bộ mẫu kiểm tra (cả các mẫu độc hại và các mẫu sách) được đặt trước thời hạn một cách nghiêm ngặt (một vài ngày trước thời hạn nộp sản phẩm), cung cấp cho các nhà phát triển sản phẩm thời gian để đảm bảo rằng sản phẩm của họ có thể hoàn toàn kiểm soát được các mẫu trong thử nghiệm của VB. Điều này cũng có nghĩa là bài kiểm tra toàn diện không thể bắt đầu cho đến một tuần sau thời hạn nộp sản phẩm. Trong quá khứ, các sản phẩm tham gia thử nghiệm đã được tiến hành kiểm tra trong khoảng một tháng trước khi kết quả được công bố, các thử nghiệm và việc xử lý kết quả được tiến hành trong suốt một tháng. Do đây đã là một lịch trình khá chặt chẽ - đặc biệt là với số lượng ngày càng tăng của các sản phẩm tham gia trong những năm gần đây - nên có lẽ cần thiết lập thời hạn sớm hơn một chút, nhưng những điều chỉnh lịch trình này cần ở mức tối thiểu, để đảm bảo kết quả công bố là cập nhật nhất có thể.

Việc điều chỉnh trong thời gian thử nghiệm cũng sẽ gây áp lực đáng kể vào quá trình xác nhận phần mềm độc hại của VB. Hiện VB đang tập trung vào việc cố gắng để tự động hóa quá trình xác nhận càng nhiều càng tốt, để có được số lượng mẫu xử lý sử dụng trong thử nghiệm nhiều nhất có thể.

Kết quả thử nghiệm

Những độc giả thông minh có thể dự đoán được ngay kết quả đầu ra của những thử nghiệm này. Dự đoán ban đầu là hầu hết các sản phẩm sẽ cho thấy sự suy giảm nhỏ về hiệu suất trong ba tuần với thử nghiệm phản ứng, với sự thay đổi rõ rệt nhất là đối với bộ sưu tập mẫu thu thập cách đây lâu nhất ("tuần -3"), và sự suy giảm còn rõ rệt hơn trong thử nghiệm phát hiện tiên phong các mã độc ("tuần +1"). Mô hình này dự kiến sẽ được thấy rất rõ ràng đối với cho những sản phẩm mà các phòng thí nghiệm tập trung vào thời gian phản ứng nhanh qua phép nghiệm suy. Trong các thử nghiệm, mô hình này được tiếp nối khá tốt ở mức độ chung, nhưng ở cấp độ sản phẩm cá nhân có nhiều bất ngờ và dị thường, một xu hướng đặc biệt thú vị là sự thể hiện đáng thất vọng của nhiều sản phẩm đối với các mẫu ở "tuần -3" so với các mẫu ở "tuần -1".

  


Các kết quả thử nghiệm sẽ được thể hiện bằng biểu đồ, như hình minh họa ở trên. Ba thanh màu xanh nhạt đại diện (từ trái qua) cho tuần -3, -2 và -1, trong khi thanh màu xanh đậm tượng trưng cho tuần +1. Điểm RAP tổng thể cũng được trình bày trên đồ thị, đại diện cho khả năng phát hiện trung bình trong vòng bốn tuần. Các trường hợp sản phẩm gây ra cảnh báo nhầm trong thử nghiệm sẽ được tô màu đỏ ở nền đồ thị và có một dấu gạch chéo (dấu nhân "X") lớn, màu đen, cùng với ký hiệu "FP =" cho biết số lượng cảnh báo nhầm gây ra.

Kết quả thử nghiệm RAP tháng 4/2010

Danh sách các sản phẩm tham gia thử nghiệm:
Agnitum Outpost Security Suite Pro
AhnLab V3 Internet Security
Alwil avast! free antivirus
Arcabit ArcaVir 2010
Authentium Command Anti-Malware
Avanquest Double Anti-Spy Professional
AVG Internet Security Network Edition
Avira AntiVir Personal
Avira AntiVir Professional
BitDefender Antivirus 2010
Bkav Gateway Scan
Bkav Home Edition
Bullguard Antivirus
CA Threat Manager
Central Command Vexira Antivirus Professional
Check Point Zone Alarm Suite
Defenx Security Suite 2010
Digital Defender Antivirus
eEye Digital Security Blink Professional
Emsisoft a-squared Anti-Malware
eScan Internet Security for Windows
ESET NOD32 Antivirus
Filseclab Twister Anti-TrojanVirus
Fortinet FortiClient
Frisk F-PROT
F-Secure Client Security
F-Secure PSB Workstation Security
G DATA Antivirus 2010
Ikarus virus.utilities
iolo System Mechanic Professional
K7 Total Security
Kaspersky Anti-Virus 2010
Kaspersky Anti-Virus 6 for Windows Workstations
Kingsoft Internet Security 2010 Advanced Edition
Kingsoft Internet Security 2010 Standard Edition
Kingsoft Internet Security 2010 Swinstar Edition
Lavasoft Ad-Aware Professional Internet Security
McAfee Total Protection
McAfee VirusScan Enterprise
Microsoft Security Essentials
Nifty Corp. Security 24
Norman Security Suite
Norman Security Suite
PC Tools Internet Security 2010
PC Tools Spyware Doctor
Preventon AntiVirus
Proland Protector Plus Professional
Qihoo 360 Security
Quick Heal AntiVirus 2010
Rising Internet Security 2010
SGA Corp. SGA-VC
Sophos Endpoint Security and Control
SPAMfighter VIRUSfighter Plus
SPAMfighter VIRUSfighter Pro
Sunbelt VIPRE AntiVirus Premium
Symantec Endpoint Protection
Symantec Norton Antivirus
Trustport Antivirus 2010
VirusBuster Professional
Webroot AntiVirus with SpySweeper

Các kết quả thử nghiệm "tuần -1", "tuần -2" và "tuần -3" đã được công bố hồi đầu tháng 4/2010. Dưới đây là kết quả thử nghiệm "tuần +1" của VB100.

Click vào ảnh để xem kích thước lớn

Đồ thị trên biểu diễn tỷ lệ phản ứng (trục tung) so với phát hiện tiên phong (trục hoành).

Các bạn có thể nhận ra ngay rằng hầu hết các điểm biểu diễn tỷ lệ phản ứng/phát hiện tiên phong của các sản phẩm đều nằm phía trên đường thẳng nối góc trái-dưới với góc phải-trên, có nghĩa là chúng để có khả năng phản ứng với các mã độc đang tồn tại tốt hơn so với khả năng nhận diện các mã độc mới, điều này rất dễ hiểu. Xu hướng thứ 2 là hầu hết các sản phẩm đều nằm trên một đường thẳng song song với đường thẳng y=x (nằm ở nửa mặt phẳng phía trên), có nghĩa là tỷ lệ phản ứng/phát hiện tiên phong của các sản phẩm diệt virus biến thiên tuyến tính; nói cách khác, một sản phẩm có khả năng phản ứng với mã độc hiện tại càng nhạy, thì khả năng phần mềm đó phát hiện đón đầu các mã độc mới sẽ càng cao. Điều này có thể được giải thích là do một sản phẩm nhận diện được nhiều mã độc hiện hành, thì cơ sở dữ liệu nhận dạng (hay "signature" - chữ ký) càng lớn và càng hiệu quả, nên khả năng "tóm" được các mã độc cùng chủng loại, cùng họ (hay "family" - gia đình) sẽ càng cao. Tất nhiên là điều này chỉ là tương đối, vì nó còn phụ thuộc vào sự "thông minh" của phép nghiệm suy và sản phẩm đó được trang bị, và cũng phục thuộc vào mẫu thử được sử dụng trong thử nghiệm.

Click vào ảnh để xem kích thước lớn


Xem trên đồ thị, các bạn có thể nhận ra ngay rằng các sản phẩm diệt virus tốt nên nằm trên (thuộc) đường thẳng y=x, tức là nó nhận diện được bao nhiêu mã độc hiện tại, thì cũng có khả năng nghiệm suy được bấy nhiêu mã độc chưa biết trước, đây là tỷ lệ tuyệt đối và không thể đạt được trong thực tế. Đồ thị nằm dưới đường thẳng y=x là điều không thể. Sản phẩm có đồ thị biểu diễn nằm phía trên, càng gần đường y=x thì càng tốt, và nằm càng cao càng tốt.

Như vậy, các sản phẩm nằm ở nhóm trên gồm Emsisoft, Trustport, Kaspersky 2010, Kaspersky 6, Check Point, ESET, Webroot, Sophos, G DATA, McAfee TP, Sunbelt, Ikarus,... Các sản phẩm khá nổi tiếng, nhưng chỉ đạt mức trung bình gồm: Symantec Norton, AVG, BitDefender,... Còn các sản phẩm ở mức thấp như: Bkav Home, Bkav Gateway, Kingsoft Advanced/Standard/Swinstar,...

Đáng chú ý là Kaspersky đạt điểm rất cao trong thử nghiệm này, Zone Alarm sử dụng engine của Kaspersky nên cũng dành được kết quả cao, tiếc là nó không vượt qua thử nghiệm VB100 trên Windows XP SP3 trong khi Kaspersky lại vượt qua (có lẽ là do cơ sở dữ liệu nhận dạng mã độc, hoặc phép nghiệm suy sử dụng cho phiên bản dành cho doanh nghiệp khác với phiên bản dành cho người dùng đơn lẻ đã dẫn đến sai khác này). Năm ngoái Kaspersky 6 đã có kết quả ở mức trung bình, nhưng phiên bản mới ra mắt của Kaspersky Anti-Virus 6 MP4 (phát hành sau Kaspersky 2010) đã làm rất tốt, khi tiến thẳng lên top đầu.

Trustport sử dụng 2 engine của BitDefender và AVG, còn G DATA sử dụng 2 engine của Avast và BitDefender, nên tỷ lệ phát hiện mã độc và nghiệm suy của hai phần mềm này rất cao, nhưng tốc độ quét chậm và hay gây ra các cảnh báo nhầm. Tuy nhiên, trong thử nghiệm của AV-Comparatives năm ngoái, G DATA đã cho thấy tốc độ quét cao, và số lượng cảnh báo nhầm rất thấp, điều này thực sự ấn tượng. Trustport có khả năng phát hiện đón đầu các mã độc chưa được nhận diện cao nhất (~80%), còn sản phẩm a-squared Anti-Malware của Emsisoft có khả năng phản ứng lại mã độc hiện tại cao nhất (98,72%).

McAfee tuy không có những thuận lợi từ công nghệ điện toán đám mây của mình (do những hạn chế trong quy tắc thực hiện thử nghiệm của VB100), nhưng vẫn đạt kết quả rất cao. Trong khi đó, sản phẩm Norton của đại gia Symantec lại có kết quả đáng thất vọng, mặc dù nó đạt được kết quả cao nhất trong thử nghiệm động của AV-Comparatives năm ngoái. Nếu được sử dụng những ưu điểm của công nghệ Insight Protection thì liệu nó có khá hơn? Điều này thì tôi không dám chắc. Còn Panda thì đã từ chối tham gia thử nghiệm ngay từ đầu, do không được phép phát huy tính năng điện toán đám mây.

Microsoft Security Essentials là sản phẩm được mong đợi và đã gây ra rất nhiều bất ngờ thú vị trong các thử nghiệm năm 2009, nhưng các kết quả thử nghiệm năm nay có vẻ không thuận lợi cho Microsoft, khi MSE chỉ đạt thứ hạng trung bình trong các thử nghiệm của cả AV-Comparatives và VB100.

Kingsoft của Trung Quốc và Bkav của Việt Nam là hai sản phẩm châu Á tham gia thử nghiệm, và cả hai đều đạt kết quả rất thấp. Tuy nhiên, theo quan điểm cá nhân, tôi nghĩ rằng đây là bước tiến quan trọng, vì ít nhất thì bước đầu họ cũng đã chứng tỏ rằng phần mềm diệt virus không phải chỉ để diệt virus nội địa, và đây cũng là bước đầu để làm quen chứng tỏ mình trên thị trường quốc tế. Hy vọng họ sẽ làm tốt hơn trong các thử nghiệm sắp tới.


Dưới đây là kết quả thử nghiệm RAP trung bình tính từ tháng 10/2009 tới tháng 4/2010:


Click vào ảnh để xem kích thước lớn



VB100: Windows XP SP3 - April 2010

Tổ chức thử nghiệm độc lập Virus Bulletin vừa mới công bố kết quả thử nghiệm phần mềm diệt virus trên nền HĐH Windows XP tháng 4/2010. Lần thử nghiệm này là mới nhất, và cũng là lần có số lượng phần mềm diệt virus tham dự nhiều nhất từ trước tới nay, với 60 sản phẩm tham gia thử nghiệm. Kết quả thử nghiệm cho thấy 2/3 số sản phẩm đã vượt qua bài thử nghiệm và dành được chứng nhận của VB100.

Như tôi đã từng giới thiệu trước đây, VB100 là một tổ chức kiểm định chất lượng sản phẩm diệt virus có uy tín trên thế giới, tổ chức này sử dụng các mẫu thử của ITW. Các mẫu virus được VB100 dùng trong thử nghiệm đều được lấy từ WildList,bao gồm các virus phổ biến nhất trên thế giới. Danh sách các virus của WildList được phát hành hàng tháng, nhưng thường thì nó có độ trễ khoảng vài tháng. Điều đó có nghĩa là các nhà phát triển phần mềm diệt virus có vài tháng để cập nhật cơ sở dữ liệu cho các sản phẩm của mình, giúp chúng phát hiện và tiêu diệt được các virus có trên WildList.

Để vượt qua thử nghiệm và dành chứng nhận của VB100, các sản phẩm tham gia thử nghiệm cần phải phát hiện 100% số virus có trong mẫu thử được sử dụng, và không được phát hiện nhầm bất cứ một trường hợp nào. Lưu ý rằng khái niệm "phát hiện" ở đây có nghĩa là: sản phẩm thử nghiệm phải nêu được ra các cảnh báo rõ ràng rằng một file nào đó đã bị lây nhiễm, hoặc ngăn cản sự truy xuất file đó trong thử nghiệm on-access, nếu phần mềm diệt virus không đưa ra các cảnh báo trên, mà tự động xóa file hay tiêu diệt các mã độc lây nhiễm, thì cũng coi như đã phát hiện thành công. Với thử nghiệm đo số phát hiện/cảnh báo nhầm (FPs): một sản phẩm sẽ bị ghi nhận là phát hiện nhầm nếu nó đưa ra thông báo rõ ràng rằng một "mẫu thử sạch" là mã độc. Sự phát hiện nhầm sẽ không bị tính nếu như một file nào đó được gắn một nhãn khác cái tên "mã độc" (malware), ví dụ như: "phần mềm quảng cáo" (adware) hay các cái tên thích hợp khác được sử dụng để chỉ các ứng dụng có thể gây nguy hiểm.

Các thử nghiệm của VB100 được tiến hành ở cả 2 chế độ on-demand và on-access. Bất cứ sản phẩm diệt virus nào không vượt qua được 2 cuộc thử nghiệm này, tức là bỏ sót ≥ 1 mẫu virus trong thử nghiệm phát hiện, hoặc gây ra ≥ 1 phát hiện/cảnh báo nhầm, ở cả 2 chế độ, thì sẽ đều bị đánh giá là "FAIL", và không nhận được chứng chỉ của VB100.

Dưới đây là danh sách các sản phẩm diệt virus tham gia thử nghiệm VB100 - Windows XP - Tháng 4/2010.


Theo như kết quả trên, các sản phẩm diệt virus vượt qua thử nghiệm gồm:
Agnitum Outpost Security Suite Pro
AhnLab V3 Internet Security
Alwil avast! free antivirus
AVG Internet Security Network Edition
Avira AntiVir Personal
Avira AntiVir Professional
BitDefender Antivirus 2010
Bullguard Antivirus
CA Threat Manager
Central Command Vexira Antivirus Professional
Defenx Security Suite 2010
Digital Defender Antivirus
eScan Internet Security for Windows
ESET NOD32 Antivirus
F-Secure Client Security
F-Secure PSB Workstation Security
G DATA Antivirus 2010
K7 Total Security
Kaspersky Anti-Virus 2010
Kingsoft Internet Security 2010 Advanced Edition
Kingsoft Internet Security 2010 Standard Edition
McAfee Total Protection
McAfee VirusScan Enterprise
Norman Security Suite
PC Tools Internet Security 2010
PC Tools Spyware Doctor
Preventon AntiVirus
Proland Protector Plus Professional
Qihoo 360 Security
Quick Heal AntiVirus 2010
Rising Internet Security 2010
SGA Corp. SGA-VC
Sophos Endpoint Security and Control
SPAMfighter VIRUSfighter Plus
SPAMfighter VIRUSfighter Pro
Symantec Endpoint Protection
Symantec Norton Antivirus
Trustport Antivirus 2010
VirusBuster Professional
Webroot AntiVirus with SpySweeper
Các sản phẩm không vượt qua thử nghiệm gồm:
Arcabit ArcaVir 2010
Authentium Command Anti-Malware
Avanquest Double Anti-Spy Professional
Bkav Gateway Scan
Bkav Home Edition
Check Point Zone Alarm Suite
eEye Digital Security Blink Professional
Emsisoft a-squared Anti-Malware
Filseclab Twister Anti-TrojanVirus
Fortinet FortiClient
Frisk F-PROT
Ikarus virus.utilities
iolo System Mechanic Professional
Kaspersky Anti-Virus 6 for Windows Workstations
Kingsoft Internet Security 2010 Swinstar Edition
Lavasoft Ad-Aware Professional Internet Security
Microsoft Security Essentials
Nifty Corp. Security 24
Norman Security Suite
Sunbelt VIPRE AntiVirus Premium

Kết quả thử nghiệm không làm chúng ta quá ngạc nhiên, vì phần lớn các phần mềm của các hãng có uy tín đều vượt qua được thử nghiệm. Điều gây ngạc nhiên nhất có lẽ là số lượng sản phẩm tham gia thử nghiệm quá nhiều (60), trong đó có khá nhiều hãng không có tiếng tăm gì, như AhnLab, Central Command Vexira, Defenx, Digital Defender, Preventon, Proland, Qihoo 360, SGA, Bkav, Nifty Corp., Ikarus, Filseclap,... Qihoo 360 sử dụng engine của BitDefender, giúp nó vượt qua được thử nghiệm của VB100, còn Filseclap phát hiện các virus nguồn gốc châu Á tốt hơn (có lẽ giống như Bkav), trong khi nó lại bỏ sót số lượng mã độc Wildlist rất lớn.

Symantec, BitDefender, Kaspersky, ESET đều dễ dàng vượt qua thử nghiệm của VB100. Trong những lần trước đây, Symantec đều chỉ đưa sản phẩm Endpoint Protection tới tham dự, có lẽ vì những báo cáo của VB100 phần lớn dành cho những doanh nghiệp sử dụng để tham khảo (phí sử dụng là $175/năm), nên các sản phẩm bán lẻ cho người tiêu dùng và các tổ chức nhỏ như Norton Anti-Virus năm nay mới tham gia. Kaspersky Anti-Virus 2010 vượt qua thử nghiệm, nhưng Kaspersky Anti-Virus 6 (dành cho các doanh nghiệp) lại không vượt qua, do bỏ sót 1 mã độc, có lẽ sản phẩm này sử dụng cơ sở dữ liệu nhận dạng mã độc khác chút ít so với Kaspersky AV dành cho người dùng nhỏ lẻ. ESET vẫn tiếp tục gây ấn tượng với 61 lần vượt qua thử nghiệm, 3 lần thất bại, 5 lần không tham gia, và 8 năm liên tiếp đều đạt chứng chỉ VB100.

Panda từ chối tham gia vào thử nghiệm này, vì sản phẩm của Panda vốn dựa trên công nghệ điện toán đám mây, còn VB100 lại thực hiện thử nghiệm ngoại tuyến (offline). Nếu VB100 thực hiện thử nghiệm với kết nối internet, có lẽ Panda và Symantec sẽ đạt được các kết quả rất cao, do Panda Cloud có sử dụng công nghệ điện toán đám mây, và Symantec thì có Insight Protection.


Trong các sản phẩm không vượt qua thử nghiệm ở trên, chúng ta có thể thấy một số sản phẩm bỏ sót lượng mã độc đáng kể, như eEye, Emisoft, Filseclap, Ikarus, Norman,... đặc biệt là phần mềm khá nổi tiếng a-squared của Emsisoft lại không vượt qua được thử nghiệm và bỏ sót quá nhiều mã độc (974 mẫu). Giải thích cho điều này, nhà phát triển phần mềm của Emisoft giải thích rằng: tất cả 974 mã độc bỏ sót đều cùng thuộc một họ: virus, và do các virus là đa hình, nên phần mềm của họ tuy bỏ lỡ 974 mẫu, nhưng thực chất chỉ là từ một loại virus gốc mà thôi. Dù thế, cách giải thích xem ra không được thỏa đáng cho lắm.

Đây là lần đầu tiên BKAV của Việt Nam tham gia thử nghiệm VB100, cả 2 sản phẩm BKAV Gateway Scan và BKAV Home đều không vượt qua được thử nghiệm, do bỏ sót mẫu wildlist trong thử nghiệm phát hiện. Đáng khen là cả 2 sản phẩm đều không gây ra bất cứ cảnh báo nhầm nào cả. Hy vọng trong tương lai, BKAV sẽ được cải tiến hơn nữa để sớm đạt được mục tiêu đánh bật các phần mềm diệt virus nước ngoài khỏi Việt Nam, và tiến đến toàn cầu hóa vào năm 2010.

Mặc dù vậy, thử nghiệm vẫn chỉ là thử nghiệm mà thôi, nếu bạn định lựa chọn phần mềm diệt virus, thì nên cân nhắc tới nhiều yếu tố khác, chứ không nên chỉ dựa vào các thử nghiệm đơn thuần. Thêm nữa, theo quan điểm cá nhân, tôi cho rằng thử nghiệm này của VB100 không hữu ích, vì họ thực hiện thử nghiệm trong môi trường không giống như những gì đang diễn ra trên thực tế mà hàng ngày bạn đang gặp phải. Bạn nên xem thêm thử nghiệm RAP của VB100 để có được những đánh giá toàn diện hơn.


AV-Comparatives: On-demand Detection of Malicious Software (Feb 2010)


Mỗi năm, AV-Comparatives đều thực hiện 2 bài thử nghiệm phát hiện mã độc theo yêu cầu đối với các phần mềm diệt virus đạt chất lượng nhất định. Kết quả thử nghiệm tháng 2/2010 mới được công bố hồi cuối tháng 3, theo báo cáo này, năm nay có thêm 4 ứng viên tham gia thử nghiệm, gồm: K7, Panda, PC Tools và Trend Micro.

Danh sách các phần mềm tham gia thử nghiệm gồm:
avast! Free Antivirus 5.0
AVG Anti-Virus 9.0
AVIRA AntiVir Premium 9
BitDefender Antivirus 2010
eScan Anti-Virus 10
ESET NOD32 Anti-Virus 4.0
F-Secure Anti-Virus 2010
G DATA AntiVirus 2010
K7 TotalSecurity 10.0 (new)
Kaspersky Anti-Virus 2010
Kingsoft Antivirus 2010
McAfee AntiVirus Plus 2010
Microsoft Security Essentials 1.0
Norman Antivirus & Anti-Spyware 7.30
Panda Antivirus Pro 2010 (new)
PC Tools Spyware Doctor with AV 7.0 (new)
Sophos Anti-Virus 9.0
Symantec Norton Anti-Virus 2010
Trend Micro AntiVirus plus AntiSpyware 2010 (new)
TrustPort Antivirus 2010

Nếu bạn đang có ý định tìm mua một sản phẩm bảo vệ hệ thống, hãy ghé thăm trang chủ của nhà cung cấp và tải phiên bản thử nghiệm về dùng thử trước khi đưa ra các quyết định dựa trên những thử nghiệm này. Còn có nhiều tính năng và yếu tố quan trọng khác (như giá cả, dễ sử dụng, quản lý, tương thích, giao diện đồ họa, ngôn ngữ, chức năng khóa theo hành vi/HIPS, bộ lọc URL, đánh giá trang web, hỗ trợ...) cần được xem xét cùng. Một vài sản phẩm có thể cung cấp các tính năng phụ, ví dụ như cung cấp khả năng bảo vệ phụ trợ, chống lại các mã độc trong quá trình thực thi của chúng (nếu chúng chưa bị phát hiện trước đó, khi thực hiện quá trình quét theo yêu cầu).

Mặc dù cực kỳ quan trọng, nhưng tỷ lệ phát hiện chỉ là một khía cạnh của sản phẩm diệt virus toàn diện. AV-Comparatives còn cung cấp thử nghiệm đánh giá các phần mềm an ninh toàn diện, cùng với các thử nghiệm khác bao trùm toàn bộ các tính năng của phần mềm bảo mật, như: đánh giá khả năng phát hiện các ứng dụng tiềm ẩn nguy cơ không mong muốn (PUA), đánh giá hiệu năng hoạt động, tốc độ quét, thử nghiệm động...

Hầu hết các sản phẩm hiện nay, theo mặc định, đều chạy ở cấu hình có mức độ an ninh cao nhất (hay ít nhất là tại thời điểm bắt đầu thực hiện việc quét theo yêu cầu, hoặc quét định kỳ), hoặc tự động chuyển sang cấu hình an ninh cao nhất khi phát hiện ra mối nguy hiểm. Vì thế, để có thể so sánh được kết quả kiểm tra, AV-Comparatives đã thực hiện việc thử nghiệm trên các phần mềm với mức độ an ninh tối đa, nếu không có những lời khuyên rõ ràng khác từ nhà phát triển phần mềm (vì khi kiểm tra với cấu hình an ninh tối đa trên tất cả các thử nghiệm, các sản phẩm an ninh thường gây ra nhiều cảnh báo nhầm, ảnh hưởng tới hiệu năng hệ thống, hoặc cũng có thể do nhà phát triển phần mềm có kế hoạch thay đổi các cấu hình thiết đặt trong tương lai).

Dưới đây là một số lưu ý về các thiết đặt đã được sử dụng (tùy chọn quét tất cả các file luôn được sử dụng) của một số sản phẩm:

  • AVIRA, Kaspersky, Symantec, TrustPort: yêu cầu được thử nghiệm với thiết đặt phỏng đoán (nghiệm suy) ở mức cao.
  • F-Secure, Sophos: yêu cầu được thử nghiệm và đánh giá dựa trên các thiết đặt mặc định của họ (ví dụ như không sử dụng thiết đặt phỏng đoán (nghiệm suy) và phát hiện các dấu hiệu nghi ngờ ở mức cao.
  • AVG, AVIRA: yêu cầu không tính các thông tin cảnh báo của các file nén vào tỷ lệ phát hiện, vì thế, các phát hiện trong các file nén này sẽ không được tính vào kết quả, dù đó là sự phát hiện mã độc đúng hay sai.
Những thay đổi trong thử nghiệm lần này

Bộ mẫu sử dụng trong thử nghiệm lần này nhỏ hơn các lần khác, nguyên nhân là do AV-Comparatives hiện đang cố gắng sử dụng bộ mẫu chứa những mã độc hiện đang thịnh hành và vẫn còn tồn tại (trong vòng 8 tháng trước). Để xây dựng bộ mẫu, họ đã tham khảo thông tin dữ liệu (metadata), các dữ liệu đo đạc từ xa được thu thập và chia sẻ trong lĩnh vực diệt virus, cũng như những truy vấn điện toán đám mây và yêu cầu dữ liệu về các mã độc phổ biến nhất được ghi nhận từ người dùng. Các mã độc ghi nhận được từ máy tính của người dùng sẽ tự động được xem như mức quan trọng. Tuy nhiên, không phải tất cả các nguồn cung cấp mẫu đều có sự ổn định như nhau, một số bộ mẫu đã bị xóa bỏ. Điều này sẽ được cải thiện trong tương lai, nhóm thử nghiệm đang làm việc để cải tiến các quá trình chia sẻ dữ liệu của họ.

Dù sao đi nữa, các bộ mẫu được sử dụng có thể sẽ ngày càng nhỏ hơn, và tập trung chủ yếu vào các mối nguy hiểm dễ bị phát hiện và đánh dấu, nên điểm đạt được của các sản phẩm an ninh sẽ cao hơn. Đó là lý do AV-Comparatives sẽ tăng số điểm của các cấp độ trong các lần thử nghiệm tới. Lần tới, để đạt được mức ADVANCED+, điểm cho các thử nghiệm phát hiện nhầm (FPs) sẽ còn khắt khe hơn nữa.

Kết quả thử nghiệm

Biểu đồ so sánh cách mẫu mã độc bị bỏ sót (Càng thấp càng tốt)


Số phần trăm trên biểu đồ cho thấy kết quả kiểm tra với bộ mẫu thử đã sử dụng. Mặc dù đây chỉ là bộ mẫu thử nhỏ, nhưng chúng ta có thể thấy các sản phẩm bỏ sót khá nhiều mẫu mã độc, ví dụ: AVIRA là phần mềm bỏ sót ít mã độc nhất, nhưng tỷ lệ 0,4% của nó cũng đã tương đương với khoảng 4.933 mã độc, còn Kingsoft thì bỏ sót tới 18,2%, tức là khoảng 244.467 mã độc!

Symantec, phần mềm đoạt giải nhất năm 2009, bỏ sót tới 1,4% (tức là khoảng 17.000 mã độc), trong khi đó Kaspersky, sản phẩm đứng thứ 2 của năm 2009 thì bỏ sót số lượng malware gấp đôi (2,9%, tức khoảng 35.000 mã độc). G DATA và AVIRA vẫn giữ được tỷ lệ phát hiện rất cao giống như thử nghiệm năm ngoái. Tuy nhiên, để đánh giá một phần mềm diệt virus thì chúng ta còn cần phải xem xét tới tỷ lệ phát hiện/cảnh báo nhầm (FPs) nữa.

Các kết quả của thử nghiệm "quét theo yêu cầu" (On-demand test) cũng thường được áp dụng cho thử nghiệm "quét khi truy xuất" (On-access test), nếu được thiết lập cấu hình tương tự, nhưng không được áp dụng cho các công nghệ bảo vệ khi thực thi lệnh (On-execution), như HIPS, khóa theo hành vi,...

Tỷ lệ phát hiện tốt vẫn là một trong những đặc tính quan trọng nhất, là yếu tố quyết định và đáng tin cậy của một sản phẩm diệt virus. Bên cạnh đó, hầu hết các sản phẩm có ít nhất một số kiểu HIPS, khóa các mã độc dựa theo hành vi hay theo các chức năng khác của chúng (hoặc ít nhất là có cảnh báo mối nguy hiểm), ví dụ như trong quá trình các mã độc đang thực thi lệnh, khi mà sự bảo vệ on-demand và on-access đều đã thất bại.

Tỷ lệ phát hiện (trong tổng số khoảng 1,2 triệu mẫu)



Phía trên là tỷ lệ phát hiện mã độc trong thử nghiệm quét theo yêu cầu. Đây là lần đầu tiên Panda và PCTools tham gia thử nghiệm nhưng đã cho thấy kết quả rất tốt. Symantec, BitDefender và ESET vẫn giữ được phong độ như năm ngoái, nhưng do có nhiều sự thay đổi vượt bậc từ những phần mềm khác nên 3 đại gia này vẫn bị tụt thứ hạng chút xíu. Kapersky và Microsoft tuy đã có nhiều cố gắng để nâng tỷ lệ phát hiện mã độc (Kapersky tăng từ 94,7% lên 97,1%), MSE tăng từ 90,0% lên 96,3%), nhưng vẫn chỉ đứng ở gần cuối nhóm 2.

Kết quả phụ: Khi thực hiện đo đạc tỷ lệ phát hiện của McAfee có sử dụng công nghệ điện toán đám mây, phần mềm này đạt được tỷ lệ rất cao (99%), nhưng gây ra rất nhiều cảnh báo nhầm. Tỷ lệ phát hiện tối thiểu của một số phần mềm khi không có kết nối internet (tức là không có công nghệ điện toán đám mây) là: McAfee 94,9% (19 FPs), Panda 73,3% (32 FPs), Trend Micro 68,5% (22 FPs). Điều này cũng có nghĩa là: nếu như máy tính của bạn tạm thời không có kết nối Internet, thì các ứng dụng điện toán đám mây sẽ không có đất dụng võ, và bạn nên xem xét tới các phần mềm có tỷ lệ phát hiện cao hơn khi không sử dụng công nghệ điện toán đám mây, nếu bạn sử dụng Panda hay Trend Micro mà không có kết nối Internet, chúng có khả năng sẽ bỏ lỡ các mã độc tồn tại trên hệ thống. McAfee làm khá tốt với cả trường hợp có áp dụng công nghệ điện toán đám mây và trường hợp hoạt động ngoại tuyến (offline), nhưng hãy chú ý rằng nó cũng sẽ gây ra nhiều cảnh báo không chính xác.


Bộ mẫu thử được sử dụng trong thử nghiệm tháng 1/2010 gồm khoảng 1,2 triệu mã độc, nhỏ hơn so với các lần thử nghiệm trước, nhưng nó "thực tế" hơn, như tôi đã giải thích ở phía trên.


Thử nghiệm đo số lần phát hiện/cảnh báo nhầm (FP - false alarm)




Để đánh giá chất lượng của một phần mềm an ninh, chúng ta cần phải xem xét tới khả năng phát hiện chính xác, được đo đạc thông qua các thử nghiệm gây cảnh báo nhầm. Các cảnh báo/phát hiện nhầm gây ra những vấn đề nghiêm trọng không kém so với các trường hợp bị lây nhiễm virus thật. Thường thì các phần mềm có tỷ lệ phát hiện mã độc cao, cũng sẽ gây ra nhiều cảnh báo nhầm hơn. Tất cả các cảnh báo nhầm đều đã được AV-Comparatives thông báo đến nhà phát triển phần mềm an ninh, và hiện chúng đã được khắc phục.


Tỷ lệ phát hiện nhầm của eScan và F-Secure vẫn dẫn đầu (ít nhất) giống như các năm trước, kế đến là BitDefender và Microsoft. Năm nay ESET có nhiều tiến bộ so với thử nghiệm hồi tháng 8 năm ngoái. Riêng Kingsoft thì vẫn giữ nguyên "truyền thống" của mình qua vài năm tham gia thử nghiệm: tỷ lệ phát hiện mã độc thấp và cảnh báo nhầm luôn ở mức cao.

Thử nghiệm đánh giá tốc độ quét

Tốc độ quét của các phần mềm diệt virus không giống nhau do nhiều nguyên nhân, có thể do chúng có sử dụng các mã mô phỏng, có khả năng phát hiện các virus đa hình, quét sâu và phân tích hành vi, quét rootkit, quét các file nén, tính năng quét  kiểm tra các yếu tố an ninh phụ khác, quét toàn bộ các kiểu file, sử dụng danh sách trắng từ cơ sở dữ liệu điện toán đám mây,...

Phần lớn các sản phẩm đều làm giảm thời gian quét bằng cách bỏ qua các file đã được quét trước đó. Do chúng ta cần biết tốc độ quét thực tế (tức là các file thực sự cần được quét để tìm mã độc), nên các công nghệ trên sẽ không được xét đến trong thử nghiệm này. Các sản phẩm diệt virus nên thông báo cho người sử dụng một cách rõ ràng hơn về cách quét hệ thống đã được tối ưu hóa, và sau đó để cho họ tự lựa chọn giữa cách quét tối ưu hóa (tức là bỏ qua các file đã từng được kiểm tra, đi kèm với nguy cơ có thể bỏ qua các mã độc!), hoặc quét toàn bộ hệ thống.

Đồ thị dưới đây cho thấy tốc độ MB/giây (càng cao càng tốt) của các sản phẩm diệt virus khi thực hiện thử nghiệm quét theo yêu cầu với các thiết đặt an ninh ở mức tối đa. Các bộ dữ liệu đều "sạch" (được sử dụng cho thử nghiệm phát hiện/cảnh báo nhầm). Bạn nên lưu ý rằng tốc độ quét có thể khác nhau, tùy theo mẫu được sử dụng, cấu hình của chương trình và phần cứng sử dụng.


Tốc độ quét trung bình được tính bằng kích thước của bộ mẫu (tính theo MB) chia cho tổng thời gian quét. Tốc độ quét trong mỗi thử nghiệm đều khác nhau, và không được sử dụng để so sánh với các thử nghiệm khác (do khác nhau về phần cứng, về bộ mẫu,...). Thử nghiệm đo tốc độ quét ở trên được thực hiện trên Windows XP SP3, Intel Core 2 Duo E8300/2,83GHz, 2 GB RAM, ổ cứng SATA II.

Symantec và AVIRA luôn đứng đầu về tốc độ quét, ngay cả khi thử nghiệm không xem xét tới công nghệ giúp làm giảm thời gian quét dữ liệu. eScan và TrustPort vẫn đứng cuối bảng như năm ngoái, BitDefender và MSE có tốc độ quét chậm, tỷ lệ phát hiện không quá cao nên không có gì nổi bật trong thử nghiệm đầu năm nay cả.

Các giải thưởng đạt được

AV-Comparatives có hệ thống phân loại theo 3 cấp: STANDARD (chuẩn), ADVANCED (nâng cao) và ADVANCED+. Các giải thưởng được đưa ra dựa theo tỷ lệ phát hiện chính xác và tỷ lệ phát hiện nhầm của các phần mềm diệt virus.


Các sản phẩm đánh dấu * là các sản phẩm đạt thứ hạng thấp do các phát hiện/cảnh báo nhầm

Các giải thưởng trên không chỉ dựa trên tỷ lệ phát hiện chính xác, mà còn dựa vào những cảnh báo nhầm đối với các bộ mẫu "sạch". Một sản phẩm có tỷ lệ phát hiện cao, nhưng gây ra nhiều cảnh báo nhầm, chưa chắc đã tốt bằng một sản phẩm có tỷ lệ phát hiện thấp hơn, nhưng có số cảnh báo nhầm thấp hơn.

Giải thưởng được đưa ra dựa theo hệ thống phân loại như trong bảng sau:



AV-Comparatives: Kiểm tra động các gói phần mềm bảo mật 12/2009

Trong một số bài viết trước đây, tôi đã giới thiệu đến cho các bạn một số những báo cáo thử nghiệm đáng chú ý của AV-Comparatives và VB100 về khả năng phát hiện/phòng chống virus, cũng như các phần mềm độc hại khác của các phần mềm bảo mật, và đưa ra những đánh giá suy đoán toàn diện về các sản phẩm an ninh có uy tín này trong năm 2009. Như tôi đã lưu ý trong các bài viết đó, những thử nghiệm này chỉ thuần túy dựa vào tỷ lệ phát hiện virus có trong cơ sở dữ liệu của cuộc kiểm tra, còn những tính năng quan trọng khác chưa được cân nhắc trong các báo cáo. Vấn đề là, ghi người sử dụng lựa chọn phần mềm bảo mật, họ không chỉ dựa vào những báo cáo đơn thuần kiểu này, vì đó là dạng số liệu thống kê, không thể dựa vào đó để kết luận mức độ an toàn và hiệu quả của một sản phẩm an ninh. Chính vì thế, việc thực hiện một cuộc kiểm tra động với các gói sản phẩm an ninh toàn diện là rất cần thiết và mang ý nghĩa thực tế cao, nhất là đối với những người sử dụng máy tính cá nhân gia đình, họ không cần quan tâm đến những kết quả thống kê rắc rối, mà chỉ cần so sánh một cách trực quan hiệu quả của các sản phẩm an ninh.
Mặc dù có ý nghĩa quan trọng, nhưng trên thế giới hiện nay không có nhiều các cuộc kiểm tra động có chất lượng cao và đáng tin cậy, do nó rất khó thực hiện để có thể thu được kết quả khách quan. Từ năm 2009, AV-Comparatives sẽ bắt đầu tiến hành việc đánh giá các sản phẩm an ninh theo phương pháp kiểm tra động, đây quả là một tin vui cho những người quan tâm đến vấn đề bảo mật, vì AV-Comparatives là một tổ chức kiểm định độc lập, có uy tín trên thế giới.
Dựa vào báo cáo mới được công bố đầu tháng 12 mới đây của AV-Comparatives, tôi sẽ giới thiệu đến các bạn kết quả của báo cáo này cùng một số những đánh giá riêng.
Giới thiệu
Mục đích của thử nghiệm này là so sánh khả năng bảo vệ được cung cấp bởi các giải pháp an ninh khác nhau, bằng cách kiểm tra chúng trong điều kiện thực tế. Trong những năm trước, đã có rất nhiều thảo luận về những thử nghiệm như thế này và giá trị của chúng đối với người sử dụng máy tính cá nhân gia đình. Vấn đề là những thử nghiệm kiểu này rất đắt (tốn thời gian thực hiện và cần nhiều nhân viên thực hiện) và khó sao chép. Vì thế, những thử nghiệm này rất quan trọng và nó thể hiện được khả năng bảo vệ của các phần mềm bảo mật khỏi các phần mềm độc hại.
Đây là lần đầu tiên AV-Comparatives thực hiện cuộc kiểm tra động các sản phẩm toàn diện. Mặc dù mục tiêu là kiểm tra với càng nhiều mẫu càng tốt, nhưng do những hạn chế về thời gian, tài nguyên và một số những rắc rối không mong muốn khác, nên AV-Comparatives đã cắt giảm số lượng mẫu xuống con số tương đối nhỏ, khoảng 100 trường hợp thử nghiệm. Dựa vào kinh nghiệm và những vấn đề gặp phải trong cuộc thử nghiệm này, cũng như những phản hồi từ các nhà cung cấp sản phẩm, từ năm 2010, AV-Comparatives sẽ thực hiện thường xuyên những cuộc kiểm tra kiểu này, với số lượng mẫu lớn hơn (để tăng số liệu thống kê), thêm nhiều vật “truyền bệnh” hơn và khả năng sinh sôi được cải tiến hơn, thông qua việc hợp tác với viện Thông tin và Chất lượng kỹ thuật của đại học Innsbruck.
Các sản phẩm tham gia thử nghiệm
Các sản phẩm được kiểm tra gồm:
  • avast! Free 5.0
  • AVG Internet Security 9.0
  • AVIRA Premium Security Suite 9
  • BitDefender Internet Security 2010
  • eScan Internet Security 10
  • ESET Smart Security 4.0
  • F-Secure Internet Security 2010
  • G DATA Internet Security 2010
  • Kaspersky Internet Security 2010
  • Kingsoft Internet Security 2009+
  • McAfee Internet Security 2010
  • Microsoft Security Essentials 1.0
  • Norman Security Suite 7.2
  • Symantec Norton Internet Security 2010
  • TrustPort PC Security 2010
Trong cuộc kiểm tra động các sản phẩm hoàn chỉnh, AV-Comparatives sử dụng các gói sản phẩm an ninh từ các nhà cung cấp sản phẩm chính hãng. Nếu các gói sản phẩm này chưa có đủ một số tính năng, ví dụ như trường hợp của Avast và Microsoft, thì chúng sẽ không được coi là các ứng cử viên, theo yêu cầu của nhà cung cấp sản phẩm (mặc dù AV-Comparatives không xem xét những tính năng đó, ví dụ như chức năng tường lửa). Sophos quyết định không tham gia thử nghiệm, vì sản phẩm của họ hướng đến các doanh nghiệp, chứ không phải là các khách hàng đơn lẻ như những nhà cung cấp khác. Tất cả các sản phẩm tham gia thử nghiệm đều được đặt ở chế độ mặc định, các sản phẩm có phiên bản mới nhất và đều được cập nhật cơ sở dữ liệu tới thời điểm thực hiện cuộc thử nghiệm.
Các mẫu thử được sử dụng
AV-Comparatives sử dụng 100 ca kiểm tra trong thử nghiệm này. Mỗi ca kiểm tra là một trang web có chứa mã script độc hại và các phần mềm nguy hiểm. Theo thống kê, ngày nay có tới 70% mã độc được phát tán qua các trang web nhờ các mã script độc hại và phần mềm lợi dụng[4] (thông qua việc download), 20% là từ các thủ đoạn dẫn người sử dụng tới các trang web để họ tự tay tải các phần mềm nguy hiểm về máy tính (số phần trăm còn lại thì đến từ các vật thể lây truyền khác). Hơn nữa, phần lớn các trang web lây bệnh hiện nay có tên miền tại Trung Quốc. Các ca thử nghiệm được chọn của AV-Comparatives cũng dựa vào thực tế này, họ sử dụng phần lớn các trang web chứa các phần mềm lợi dụng và các mã script độc hại, chỉ có 15 liên kết nhắm tới các phần mềm thực thi độc hại, và khoảng 30 trang có tên miền tại Trung Quốc. Các địa chỉ trang web mà AV-Comparatives sử dụng được thu thập bằng công cụ riêng của họ. Để khách quan, họ không sử dụng bất cứ dịch vụ có sẵn nào hiện nay trong việc cung cấp nguồn địa chỉ chứa mã độc. Cũng vì lý do này, AV-Comparatives không công bố các địa chỉ đã sử dụng. AV-Comparatives cũng không sử dụng các trang có chứa cùng một loại mã độc, để có thể thu được nhiều hơn các kết quả từ các ca thử nghiệm khác nhau. Mặc dù trong mỗi ngày tiến hành thử nghiệm, AV-Comparatives sử dụng từ 15 – 20 địa chỉ mới, nhưng điều đó không có nghĩa là AV-Comparatives sử dụng các mã độc và phần mềm lợi dụng kiểu “zero-day”[5]. Mục đích của cuộc thử nghiệm không phải là để các sản phẩm an ninh này đương đầu với các mã độc zero-day, mà là để vẽ nên một bức tranh thực tế về các sản phẩm an ninh, dựa vào những thứ mà hầu hết những người sử dụng máy tính gia đình trong thế giới thực phải đối mặt hàng ngày khi sử dụng sản phẩm, lướt web và các hoạt động khác trên Internet.
Hệ thống thử nghiệm được sử dụng
Để có thể phản ánh được hệ thống phổ biến nhất đối với những người sử dụng máy tính gia đình (và đây cũng là đích ngắm chủ yếu của các mã độc), AV-Comparatives không sử dụng phiên bản mới nhất của các ứng dụng và HĐH. Họ sử dụng HĐH Windows XP Professional SP3 (gói Service Pack cơ bản), sử dụng trình duyệt Internet Explorer 7 (trình duyệt phổ biến thứ 2, chỉ đứng sau IE6) và Adobe Acrobat Reader. AV-Comparatives cho biết, một lượng lớn người sử dụng truy cập các trang web của họ với các sản phẩm đã lỗi thời, thậm chí nhiều người còn liên hệ với AV-Comparatives để hỏi rằng họ không thể đọc được các báo cáo mà AV-Comparatives đã công bố (những báo cáo này cần Adobe Reader phiên bản 8.0 trở lên), và các phiên bản của Flash Player, Java,…cũng không phải là các phiên bản mới nhất. Nói tóm lại, AV-Comparatives sẽ sử dụng các hệ thống lỗi thời khoảng 1 năm, để nó phù hợp với điều kiện thực tế, thậm chí các hệ thống còn có thể lỗi thời hơn, nhưng họ không muốn sử dụng các phần mềm quá cũ. Nói ra điều này, AV-Comparatives muốn nhấn mạnh tầm quan trọng của việc giữ cho các phần mềm trong hệ thống (chứ không chỉ là phần mềm bảo mật) luôn được cập nhật ở phiên bản mới nhất, do nhiều phần mềm lợi dụng không hoạt động được trên các phiên bản đã được nâng cấp/vá lỗi. AV-Comparatives cho biết họ sẽ tiếp tục thống kê trạng thái sử dụng của người dùng, và sẽ cập nhật lên phiên bản mới hơn, như Windows 7, ngay khi nó trở lên phổ biến.
An ninh được cung cấp bên trong hệ thống và các trình duyệt
Do báo cáo này hướng tới những người sử dụng máy tính gia đình, nên đây là cơ hội tốt để cung cấp thêm một số thông tin về các tính năng an ninh trong HĐH và trình duyệt.
Trước hết, bạn hãy cập nhật HĐH và trình duyệt lên phiên bản mới nhất, đừng bỏ qua hay tắt tính năng tự động cập nhật! Mặc dù nhiều người cho rằng HĐH có lỗi trong việc khiến họ bị nhiễm mã độc, nhưng thực ra nguyên nhân lại là do chính những người sử dụng, vì họ không cập nhật các phần mềm lên phiên bản mới nhất. Phần lớn trong những lần khởi động một phần mềm mới chưa được biết tới, một hộp thoại xác nhận của Windows đều hiện lên, cảnh báo về mối nguy hiểm khi thực thi các file này. Một thông báo tương tự cũng xuất hiện khi bạn download một file nào đó trên mạng bằng Internet Explorer và chạy nó.
Khi mở file, hệ thống an ninh sẽ cảnh báo:”Nhà phân phối chưa được xác minh, bạn có chắc là mình muốn chạy file đó không? File này không có chữ ký điện tử hợp lệ để chứng thực cho nhà phân phối. Bạn chỉ nên chạy các phần mềm từ các nhà phân phối mà bạn tin tưởng.”


“Bạn có muốn mở file này không? Mặc dù các file trên Internet có thể hữu dụng, file này có thể gây hại cho máy tính của bạn. Chỉ chạy các phần mềm từ các nhà phân phối mà bạn tin tưởng.”


Phần lớn người sử dụng đều bỏ qua các cảnh báo này và tiếp tục chạy các file đó, vì họ đã quá quen với những cảnh báo kiểu như thế rồi. Ngày nay, bằng nhiều thủ đoạn kỹ thuật, người sử dụng dễ bị lừa khởi động các ứng dụng mà không thèm đếm xỉa đến các cảnh báo. Đó là lý do quan trọng khiến các phần mềm bảo mật đưa ra các biện pháp an ninh mà không dựa trên sự quyết định của người dùng, và người dùng cũng mong đợi rằng các phần mềm bảo mật sẽ làm điều đó giúp họ. Một sản phẩm tốt nên đưa ra thông báo rằng file đó có nguy hiểm hay không, và nếu nó cho rằng file đó nguy hiểm, thì nó không nên cho người sử dụng thực thi file đó (hay ít nhất thì nó cũng phải được thiết lập mặc định ở chế độ hành động khóa/bắt nhốt[8]). Còn nếu một phần mềm bảo mật mà lúc nào cũng dựa trên sự quyết định của người dùng xem có nên chạy file đó hay không, thì đó là sản phẩm không nên sử dụng.
Thêm nữa, IE8 có tính năng SmartScreen Filter, giúp khóa rất nhiều mã độc khi duyệt Internet. Google Chrome và Mozilla Firefox thậm chí còn khóa các website nguy hiểm. Nhìn vào những biện pháp an ninh sẵn có đã nêu ở trên, có thể ai đó sẽ tự hỏi: làm thế quái nào mà nhiều người vẫn bị mã độc lây nhiễm vào hệ thống của họ được nhỉ? Vấn đề không phải lúc nào cũng nằm ở phía sản phẩm hay công nghệ, mà phần lớn trường hợp thuộc về lỗi của người dùng.
Cách tiến hành
Kiểm tra động các sản phẩm hoàn chỉnh không phải là một cuộc kiểm tra khả năng phát hiện như bình thường, nó là sự kiểm tra khả năng bảo vệ/ngăn ngừa. Thử nghiệm sẽ bắt chước các mã độc thâm nhập và chạy trên hệ thống của người sử dụng giống như những gì xảy ra trên thực tế (ví dụ như ghé thăm một trang web có chứa mã độc, các phần mềm lợi dụng, bị lừa tải các file nhiễm độc). Điều này có nghĩa là không chỉ chữ ký, khả năng suy đoán, phát hiện được đánh giá, mà cả khả năng chặn URL, các dịch vụ mạng có uy tín, chặn phần mềm lợi dụng, nghiệm suy, HIPS và khả năng phán đoán theo hành vi cũng được xem xét. Nhiệm vụ bảo vệ sẽ bị coi là thất bại nếu phần mềm bảo vệ chỉ đưa ra các cảnh báo của tường lửa khi mã độc đã chạy và cố kết nối với bên ngoài. AV-Comparatives duyệt các trang web có chứa mã độc/phần mềm lợi dụng và cả các trang web có chứa các file nhiễm bệnh đã được tải và chạy. Chỉ tiêu thành công/thất bại phụ thuộc vào công nghệ được sử dụng của từng sử dụng. Điều quan trọng là sản phẩm cung cấp sự bảo vệ đáng tin cậy cho người dùng, theo nghĩa là không cần hỏi ý kiến quyết định của người sử dụng xem một thứ gì đó có phải là mối nguy hiểm hay không.
Trong thử nghiệm kiểm tra động các sản phẩm hoàn chỉnh, AV-Comparatives sử dụng 16 máy tính cá nhân giống hệt nhau về phần cứng (không phải là máy ảo), phần mềm và các thiết đặt HĐH (tài khoản quản trị). Mỗi máy tính được cài một phần mềm bảo vệ, là các gói sản phẩm bảo mật với các tính năng bảo vệ toàn diện. Các sản phẩm được cập nhật mới nhất bằng kết nối Internet trực tiếp, như trong thực tế. Mỗi máy có một địa chỉ IP riêng. AV-Comparatives sử dụng các thiết đặt cấu hình mặc định. Thử nghiệm được tiến hành vào ngày 16/11/2009, mỗi ngày tiến hành 15 – 20 ca thử nghiệm (các URL mới với các mã độc/phần mềm lợi dụng tương ứng, và các URL này không chứa các mã độc giống nhau). Do mỗi máy tính đều phải được kiểm tra, và tất cả các máy đều phải được đưa trở lại trạng thái ban đầu sau mỗi lần kiểm tra (điều này có nghĩa là phải đợi cho đến khi tất cả các máy sẵn sàng cho thử nghiệm tiếp theo), nên phải cần tới 12 tiếng mỗi ngày để 4 người thực hiện việc thử nghiệm (mặc dù họ có phát triển các công cụ giúp tăng tốc một vài quá trình). Mỗi ca thử nghiệm trước hết được xác nhận bằng cách duyệt trên một HĐH chưa được bảo vệ (chưa được cài phần mềm bảo mật) để xem mẫu thử có hợp lệ hay không, và chúng sẽ gây hại gì trên môi trường thử nghiệm. Sau đó, tất cả 15 phần mềm bảo vệ được cập nhật trước khi đưa vào thử nghiệm. AV-Comparatives ghi nhận tất cả các URL có chứa cùng loại mã độc. Tất cả các URL được duyệt cùng lúc, các phản ứng của phần mềm bảo vệ được chụp lại, các phần mềm thực hiện công việc một cách yên lặng (không đưa ra thông báo), hoặc không bảo vệ được hệ thống cũng sẽ được ghi nhận.
Trường hợp các URL phát tán mã độc khác vào hệ thống, hoặc bị lỗi trong quá trình thử nghiệm sẽ bị loại khỏi kết quả kiểm tra. Vì thế, thử nghiệm được tiến hành tới ngày 26/11/2009, và số ca thử nghiệm hợp lệ cho báo cáo giảm xuống còn 100.
Mặc dù AV-Comparatives có lưu lại rất nhiều dữ liệu, nhưng việc tiến hành thử nghiệm này là một công việc khó khăn, đặc biệt là theo cách mà họ sử dụng: trên các hệ thống thật không sử dụng môi trường ảo, và phải trông chừng để không mã độc nào tấn công vào mạng thử nghiệm. Hơn nữa, một vài sản phẩm không cung cấp các ghi nhận[7] cho những tác vụ mà người thử nghiệm đã thực hiện. Mặt khác các sản phẩm dựa trên điện toán đám mây có thể mang lại các kết quả khác nhau nếu được thử nghiệm ở những thời điểm khác nhau (hay thậm chí là ở những quốc gia khác nhau). Trong thử nghiệm, AV-Comparatives đã ghi nhận các vấn đề cần được lưu ý trong những lần thực hiện sau và sẽ được đưa vào danh mục các mẫu tự động trong thử nghiệm động. Hiện tại, AV-Comparatives đang làm việc với đại học Innsbruck để phát triển mẫu này. Họ đã lên kế hoạch hoàn thành nó và sử dụng trong thử nghiệm vào năm 2010, cho phép họ sử dụng một lượng lớn các ca thử nghiệm, tăng cường việc ghi nhận, khả năng tiến hành và cả các đối tượng phát tán phụ khác (như email, chat, P2P, USB,…). Trong một số trường hợp, cũng cần các nhà cung cấp phần mềm thay đổi và cải tiến sản phẩm của họ, để giúp những người tiến hành thử nghiệm có thể áp dụng một số công đoạn tự động trong quy trình.
Trong phần lớn trường hợp, các sản phẩm bảo mật sẽ thực hiện những hành động thích hợp của chúng (tự ra quyết định rằng một thứ gì đó bị lây nhiễm mã độc và có nên bị khóa hay không); trong một số trường hợp, chúng hỏi người dùng quyết định làm gì, nhưng khuyên rằng nên khóa file nhiễm độc đó theo như tùy chọn mặc định. Chúng ta thường thực hiện các hành động mặc định mà phần mềm bảo vệ đã chọn hoặc khuyên nên chọn để hệ thống được bảo vệ an toàn, vì chúng ta tin tưởng một cách mù quáng vào những gì mà sản phẩm an ninh tuyên bố. Nếu như không có lựa chọn mặc định nào được đưa ra, và cảnh báo không khuyên một cách trực tiếp rằng chương trình/hành động/trang web đó có thể nguy hiểm, nhóm thử nghiệm sẽ chọn chọn “khóa” (block); hành động tương tự cũng được áp dụng cho thử nghiệm phát hiện nhầm, nếu cảnh báo đó xuất hiện trong suốt quá trình thử nghiệm mã độc thật. Nếu trường hợp kiểm tra mã độc không đưa ra cảnh báo nào để người sử dụng quyết định (vì không có hành động mặc định nào được đưa ra), thì cảnh báo đó sẽ không bị coi như cảnh báo nhầm với những ứng dụng sạch.
Các cảnh báo/cửa sổ tự bung của Firewall sẽ không được ghi nhận, vì chúng thường chỉ thông báo rằng một chương trình (mà có thể đó là một chương trình sạch sẽ, phổ biến) đang cố kết nối ra bên ngoài, và hỏi người sử dụng quyết định làm gì. Một vài tường lửa, như AVG, AVIRA, Bitdefender, F-Secure và Trustport vẫn khá là lắm mồm, yêu cầu các phản ứng/quyết định của người sử dụng. Kingsoft là một phần mềm phạm lỗi đặc biệt, nó thậm chí còn khuyên rằng nên khóa kết nối của một chương trình quan trọng, phổ biến. Thỉnh thoảng AVIRA đưa ra cảnh báo tường lửa, nhưng khuyên rằng nên cho phép kết nối. Trong trường hợp như vậy, tốt hơn hết, AVIRA nên tự nó thực hiện hành động (cho phép) mà không cần làm phiền đến người sử dụng. Các hệ thống ngăn ngừa sự xâm nhập dựa trên máy chủ (HIPS) của F-Secure và đặc biệt là G DATA đối khi cảnh báo về sự thay đổi cấu hình hệ thống gây ra bởi các ứng dụng khác, nhưng lựa chọn mặc định là "cho phép" chúng (do những thay đổi như vậy thường hay gặp phải thậm chí trong quá trình cài đặt các phần mềm sạch). Quan điểm của nhóm thử nghiệm là các sản phẩm chỉ cần thực hành động mà chúng khuyên (cho phép), chứ đừng nên hỏi người dùng đưa ra ý kiến. Nếu người dùng thường gặp phải những cảnh báo như thế, thậm chí là ở cả quá trình cài đặt các phần mềm phổ biến, an toàn, thì họ sẽ quen với việc cho phép các thay đổi, và có thể làm những việc tương tự như vậy với những mã độc thực sự mà chẳng cần suy nghĩ gì.
Các thông báo của Symantec Norton Download Insight không được ghi nhận trong thử nghiệm. Download Insight sử dụng công nghệ mới của Symantec giúp nhận dạng mức độ uy tín để khóa các file lây nhiễm và cảnh báo với các file mà độ uy tín chưa được xác minh. Nếu tính năng này được xem xét, thì Symantec sẽ ngăn ngừa được thêm một mã độc mà nó đã bỏ sót.

PTN nơi thực hiện thử nghiệm


Cảnh báo nhầm/kiểm tra nhiễu (“Quá nhạy cảm”)
Để đưa ra cuộc kiểm tra có cân nhắc đến trải nghiệm của người sử dụng, AV-Comparatives có kèm theo cả thử nghiệm cảnh báo nhầm/kiểm tra độ nhiễu[8], để xem tính năng bảo vệ của các sản phẩm bảo mật có quá nhạy cảm hay không, và có hiện cảnh báo khi truy cập các trang web an toàn, khi cài đặt các ứng dụng sạch hay không. AV-Comparatives đã kiểm tra 40 ca thử nghiệm sạch, được chọn ngẫu nhiên từ các cổng tải khác nhau. Họ duyệt các trang web, tải về, giải nén, cài đặt và chạy các ứng dụng đã cài để kiểm tra xem các phần mềm bảo vệ có gây cản trở gì không.
Hầu hết các sản phẩm không cản trở gì, nhưng một số sản phẩm khác (như ESET, F-Secure, Kaspersky và Symantec) lại tự động khóa một ứng dụng sách (chỉ một trường hợp). Ban đầu AV-Comparatives định trừ điểm các sản phẩm này nếu chúng mắc phải một cảnh báo nhầm duy nhất, nhưng sau đó họ nhất trí rằng nếu dựa theo thống kê thì điều này là không đủ để hạ cấp các sản phẩm, và họ chỉ đánh dấu chúng là “quá nhạy cảm”.
Kết quả

Tỷ lệ phát hiện/phòng tránh thành công



So sánh tỷ lệ phát hiện/phòng tránh thành công

Kết quả kiểm tra cho thấy hai "đại gia" lão làng trong lĩnh vực an ninh thông tin là Symantec và Kaspersky vẫn giữ được phong độ của mình, với khả năng phát hiện/ngăn ngừa lên tới 99%. ESET tuy có kết quả kiểm tra retrospective/on-demand rất tốt, nhưng lại yếu hơn trong kiểm tra động. Microsoft tiếp tục gây ngạc nhiên với phần mềm an ninh mới, nhẹ, nhưng rất hiệu quả của mình. Kết quả của McAfee không cao bằng các phần mềm khác, nhưng AV-Comparatives thông báo rằng họ sẽ cập nhật phiên bản mới hơn của phần mềm này. Norman và Kingsoft vẫn đứng cuối bàng như những cuộc thử nghiệm khác.
Kết quả trên cũng cho thấy mặc dù các tính năng bảo vệ hiệu quả được tích hợp bên trong các sản phẩm bảo mật, nhưng người sử dụng đừng bao giờ mong đợi rằng mình sẽ được bảo vệ an toàn 100% chỉ bằng cách phần mềm đó. Hơn nữa, nếu người dùng càng tăng cường mức độ an ninh, thì hiệu quả sử dụng sẽ càng giảm, và độ nhiễu gây ra càng tăng, do tính năng bảo vệ quá nhạy cảm (các sản phẩm lắm mồm thích hỏi người sử dụng quyết định).
AV-Comparatives phân loại thành 4 mức như sau: Tested, STANDARD, ADVANCED và ADVANCED+





Cuối cùng, xin được nhấn mạnh là: bất cứ phần mềm nào đã tham gia thử nghiệm đều là các sản phẩm có chất lượng cao, mức STANDARD (chuẩn) đã là kết quả tốt rồi. Nếu sản phẩm đạt mức ADVANCED là rất tốt, và ADVANCED+ thì là quá xuất sắc.
Xem thêm:

Lưu ý: một số thuật ngữ được sử dụng trong bài viết
  • Potentially unwanted application (PUA): ứng dụng tiềm ẩn nguy cơ không mong muốn
  • False positive/False alarm (FP): phát hiện nhầm, khi một ứng dụng sạch bị phần mềm an ninh phát hiện nhầm và đưa ra các cảnh báo sai
  • Heuristic: nghiệm suy
  • Engine: bộ máy tìm kiếm và phát hiện mã độc
  • Đám mây: in-the-cloud
  • HIPS (host-based intrusion-prevention system): tính năng bảo vệ sự xâm nhập thông qua máy chủ
  • On-demand detection: Phát hiện theo yêu cầu
  • On-demand proactive detection: Phát hiện trước (phòng tránh) theo yêu cầu
  • Whole-product dynamic protection: Khả năng bảo vệ động của các sản phẩm toàn diện, nghĩa là những gói sản phẩm an ninh với đầy đủ các tính năng chứ không chỉ là tính năng diệt virus, kiểm tra được thực hiện trong "điều kiện động", là điều kiện giống hệt như những gì xảy ra trên thực tế. "Whole-product dynamic protection test" là bài kiểm tra quan trọng và có ý nghĩa nhất mà AV-Comparatives sẽ tiến hành định kỳ kể từ năm 2009.

AV-Comparatives: Kết quả thử nghiệm khả năng phát hiện các PUA

 Báo cáo kết quả kiểm tra khả năng phát hiện các “potentially unwanted applications” của AV-Comparatives tháng 12/2009

 Trong những năm gần đây, số lượng các phần mềm quảng cáo, phần mềm gián điệp và các phần mềm lừa đảo đã gia tăng đáng kể. Những ứng dụng như vậy không thuộc loại mã độc tiêu biểu, và việc xếp loại chúng đôi khi khá là khó khăn, chúng thường được miêu tả bằng thuật ngữ “potentially unwanted applications” (PUA), tạm gọi là “những ứng dụng tiềm tàng không mong muốn”. Trong một số trường hợp, PUA có thể được chấp nhận tại một số quốc gia, tùy thuộc vào nền văn hóa và hệ thống luật pháp của họ, bởi hệ thống pháp lý sẽ quyết định xem một chương trình nào đó có bị coi là phần mềm độc hại hay không. Thuật ngữ “potentially unwanted” được sử dụng do nó bao hàm cả các trường hợp không rõ ràng như vậy. Thường thì các thử nghiệm của AV-Comparatives không bao gồm những loại phần mềm này, nhưng nhiều người lại muốn biết phần mềm diệt virus của họ có khả năng ra sao trong việc phát hiện ra những ứng dụng tiềm tàng khả năng không mong muốn đó. Dù sao đi nữa, tỷ lệ phát hiện ra các PUA cũng tương tự như tỷ lệ phát hiện mã độc mà mới đây tôi đã giới thiệu với các bạn trong báo cáo kết quả kiểm tra các phần mềm diệt virus năm 2009 của VB100, và bảng so sánh các phần mềm diệt virus năm 2009 của AV-Comparatives.

Thử nghiệm PUA bao gồm 570.297 mẫu, chỉ chứa các file thực thi chương trình và các adware (phần mềm quảng cáo) chính, như Virtumonde, browser hijackers,…; spyware (phần mềm gián điệp), như các keylogger; và các rogue software (phần mềm lừa đảo), như các phần mềm anti-virus giả mạo, các phần mềm cố ý gây hiểu lầm (giao diện giống phần mềm thật, nhưng có chức năng ngầm khác). AV-Comparatives quyết định không sử dụng các phần mềm quay số (dialer) và các công cụ tiềm tàng khả năng nguy hiểm khác, vì việc phân loại và sử dụng các phần mềm này có thể gây nên nhiều tranh cãi. Một số sản phẩm bảo mật phân loại PUA vào dạng trojan, trong khi một số công ty khác lại không muốn thêm những PUA đó vào danh sách những ứng dụng không mong muốn, do chính sách của công ty họ.

Bộ adware/spyware/rogue (“potentially unwanted applications”, PUA) được niêm phong vào ngày 20/10/2009. Hệ thống và các sản phẩm thử nghiệm được cập nhật vào ngày 6/11/2009. AV-Comparatives kiểm tra các sản phẩm với những thiết đặt an ninh ở chế độ cao nhất (ngoại trừ F-Secure và Sophos, do yêu cầu riêng của họ).

Kết quả những thử nghiệm của AV-Comparatives thường có thể áp dụng cho chế độ on-access (quét nền) nếu được cấu hình như nhau, nhưng không áp dụng cho các công nghệ bảo vệ on-execution, ví dụ như tính năng bảo vệ sự xâm nhập dựa trên máy chủ (HIPS) và khóa hành vi. Khả năng phát hiện tốt vẫn là tính năng quyết định, quan trọng và đáng tin cậy nhất của sản phẩm diệt virus. Thêm nữa, hầu hết sản phẩm phải cung cấp ít nhất một vài kiểu HIPS, sự bảo vệ dựa trên hành vi hoặc tính năng khác để khóa (hay ít nhất là cảnh báo) các hành động có hại. Ví dụ, chúng phải có khả năng khóa (hoặc cảnh báo) khi các phần mềm độc hại thực thi, mặc dù tất cả các bộ máy phát hiện/bảo vệ on-access và on-demand đã bị lỗi.










Các giải thưởng ở trên là chỉ dựa vào tỷ lệ phát hiện adware/spyware/vogue, để xem tỷ lệ phát hiện các mã độc khác như trojan, backdoor, virus,... cũng như tỷ lệ cảnh báo nhầm của các sản phẩm, mời bạn tới trang này.

Đây là thử nghiệm đầu tiên của AV-Comparatives về khả năng phát hiện PUA, vì thế, các giải thưởng này có thể thay đổi trong các lần thử nghiệm sau. Các giải thưởng này còn được phân chia theo số lượng mẫu bị phát hiện nhầm nữa, quy tắc phân chia các bạn xem ở đây.

Bảng tổng kết về các phần mềm diệt virus năm 2009 của VB100

Báo cáo kết quả kiểm tra khả năng phát hiện các “potentially unwanted applications” của AV-Comparatives tháng 12/2009

 Sau khi AV-Comparatives đưa ra báo cáo kết quả thử nghiệm của các phần mềm diệt virus tháng 11/2009, và chuẩn bị công bố báo cáo so sánh toàn diện về các phần mềm diệt virus năm 2009, thì tháng 12 này VB100 cũng chính thức thông báo kết quả kiểm tra khả năng diệt virus trên hệ thống cái đặt Windows 7 của Microsoft, cũng là kết quả thử nghệm cuối cùng của năm 2009, chính thức khép lại một năm chiến đấu vất vả giữa các phần mềm diệt virus và các virus ở trong... phòng thí nghiệm.

Bảng kết quả thử nghiệm các phần mềm diệt virus trên Windows 7 tháng 12/2009 của VB100




Theo báo cáo trên, các phần mềm vượt qua thử nghiệm bao gồm: Alwil, ArcaBit, Authentium, AVG (Grisoft), AVG (Grisoft), Avira, BitDefender (SOFTWIN), Bullguard, eScan, Eset, Fortinet, FRISK, F-Secure, F-Secure Protection Services, GDATA, K7 Computing, Kaspersky AntiVirus 2010, Kaspersky, Kingsoft Advanced, Kingsoft Standard, McAfee Total Security, McAfee, Microsoft Security Essentials, Nifty, PC Tools Internet Security, PC Tools Spyware Doctor, Preventon, Qihoo, Quick Heal, Sophos, Sunbelt Vipre, Symantec, AEC (Trustport), VirusBuster.

Các phần mềm không vượt qua thử nghiệm (bỏ sót mã độc) gồm: AhnLab, CA Consumer, CA Business, eEye, Filseclab, Kingsoft Swinstar, Microsoft Forefront, Norman.


Bảng tổng kết kết quả thử nghiệm các phần mềm diệt virus năm 2009 của VB100




Để các bạn tiện theo dõi, tôi sẽ thống kê lại danh sách các phần mềm diệt virus theo số lần tham gia thử nghiệm và số thử nghiệm đã vượt qua.

Lưu ý: ký hiệu số thử nghiệm đã vượt qua/số thử nghiệm tham dự


Các phần mềm tham dự cả 5 cuộc thử nghiệm:
  • 5/5: Alwil, AVG (Grisoft), Eset, F-Secure, Kaspersky, McAfee
  • 4/5: AEC (Trustport), CA Business, eScan, Fortinet, Kingsoft Advanced, Quick Heal, Sophos, Symantec
  • 3/5: Avira, FRISK, K7 Computing, VirusBuster
  • 2/5: AhnLab
Các phần mềm tham dự 4 cuộc thử nghiệm:
  • 4/4: GDATA
  • 3/4: BitDefender (SOFTWIN), Microsoft Forefront
  • 2/4: Kingsoft Standard, Norman
  • 0/4: Filseclab
Các phần mềm tham dự 3 cuộc thử nghiệm:
  • 2/3: Agnitum, Authentium, Nifty
  • 1/3: CA Consumer, eEye, PC Tools Internet Security, PC Tools Spyware Doctor
Các phần mềm tham dự 2 cuộc thử nghiệm
  • 2/2: Bullguard, McAfee Total Security, Webroot
  • 0/2: Finport, PC Tools AntiVirus, Rising
Các phần mềm tham dự 1 cuộc thử nghiệm:
  • 1/1: ArcaBit, Avira Personal, Check Point, F-Secure Protection Services, Kaspersky AntiVirus 2010, Microsoft OneCare, Microsoft Security Essentials, Preventon, Qihoo, Redstone, Sunbelt Vipre
  • 0/1: Ikarus, Kingsoft Swinstar, Netgate

Theo kết quả thu được từ VB100 và AV-Comparatives thì ESET NOD32 xứng đáng là phần mềm dẫn đầu với số thử nghiệm vượt qua thành công nhiều nhất, kế đến là Kaspersky, theo sát phía sau là McAfee Total Security, GDATA, F-Secure, BitDefender, Microsoft Security Essentials.

Kingsoft Advanced với các mức thiết lập cao nhất của hệ thống phòng thủ nhưng vẫn bị trượt ở một thử nghiệm, Kingsoft Standard với mức phòng thủ được cắt giảm thì bị trượt ở 2 trên 4 thử nghiệm, còn Kingsoft Swinstar mới tham gia thử nghiệm nhưng cũng không đạt.

So với các hãng khác thì Sunbelt và Webroot chỉ là đàn em mới bước chân vào "đấu trường" diệt virus, nhưng đã thể hiện khả năng không tồi. Sản phẩm diệt virus mới của cả 2 hãng này, Sunbelt Vipre và Webroot cũng được các tổ chức kiểm định độc lập khác đánh giá cao. Như vậy, ngoài sản phẩm diệt phần mềm gián điệp (Spyware) rất nổi tiếng, đang thống lĩnh thị trường Anti-Spyware của mình là CounterSpy (Sunbel) và SpySweeper (Webroot) thì hai công ty này đã chính thức góp mặt trong đội quân Anti-Virus.

Có thể PC Tools sẽ muốn hy vọng là mình chưa từng đăng ký tham gia thử nghiệm, vì cả 3 phần mềm được quảng cáo rầm rộ của hãng là PC Tools Internet Security, PC Tools Spyware Doctor, PC Tools AntiVirus đều đạt kết quả thử nghiệm rất thấp. Tôi đã từng sử dụng PC Tools Internet Security và không bao giờ còn muốn dùng lại nó nữa vì nó khiến cho hệ thống hoạt động quá ì ạch, thời gian khởi động máy và thực hiện các tác vụ cũng rất lâu. Thật đáng tiếc, vì PC Tools Spyware Doctor đã từng là sản phẩm được đánh giá cao của hãng.

McAfee Total Security vẫn tốt từ xưa đến nay rồi, phần mềm này vượt qua thử nghiệm của VB100 một cách xuất sắc nhưng lại kém hơn ở các thử nghiệm của AV-Comparatives.

Năm nay Microsoft Security Essentials lại là cái tên được nhắc đến nhiều, vì phần mềm khá non trẻ "trong ngành" của hãng đã đạt được những thành công không ngờ. Trước đây khi Microsoft thông báo sẽ ra mắt phần mềm Microsoft Security Essentials, có lẽ không ít các chuyên gia đã "cười khẩy", nhưng giờ có thể biết là ai cười ai rồi nhé Nhược điểm lớn nhất là Microsoft Security Essentials khởi động quá chậm, những 7 giây sau khi hệ thống khởi động, khoảng thời gian 7 giây chết người đó cũng đủ để các virus biến máy tính của bạn thành chiếc máy tính...phải cài lại Win Có lẽ Microsoft sợ hệ thống bị quá tải nên đã không cho MSE khởi động và quét trong quá trình boot của hệ thống chăng? Who knows

Ngày nay, virus luôn không ngừng biến đổi, một đặc điểm quan trọng của các phần mềm diệt virus là nó phải biết đi trước đón đầu các virus mới, dựa vào hành vi và mã cấu trúc "gene" của các mã độc, tính năng này được gọi là Proactive detection. VB100 cũng đã kiểm tra "độ nhạy" của các phần mềm diệt virus bằng các thử nghiệm như sau: họ đo khả năng phát hiện của các sản phẩm diệt virus qua 4 đợt riêng biệt với các mẫu phần mềm độc hại. Trong 3 tuần đầu sẽ diễn ra ba đợt thử nghiệm đầu tiên bao gồm các mã độc mới, được cung cấp hàng tuần trước hạn nộp sản phẩm. Thử nghiệm này sẽ đo xem các nhà phát triển sản phẩm và các phòng thí nghiệm phản ứng nhanh ra sao với lượng mã độc xuất hiện mới một cách ổn định trên toàn thế giới (Reactive Detection). Đợt thứ tư sẽ bao gồm các mẫu phần mềm độc hại mới, nhưng xuất hiện sau khi nộp sản phẩm. Thử nghiệm này thường được sử dụng làm tiêu chuẩn đánh giá khả năng phát hiện các mẫu mới và chưa được nhận dạng một cách chủ động, sử dụng kỹ thuật nghiệm suy và cấu trúc "gene" (Proactive Detection).

Dưới đây là biểu đồ cho thấy kết quả RAP (Reactive Detection/Proactive Detection) từ tháng 4-10/2009, với kết quả trung bình của reactive so với proactive của mỗi sản phẩm. Các mẫu bị phát hiện nhầm sẽ bị trừ vào kết quả tính toán trung bình của sản phẩm đó.

Bảng kết quả thử nghiệm Reactive Detection/Proactive Detection của các phần mềm diệt virus từ tháng 6-12/2009 của VB100




Theo bảng kết quả trên, khả năng phản ứng nhanh và ngăn chặn, đón đầu virus tốt nhất thuộc về GDATA, kế đến là TrustPort, Webroot, Kaspersky, AVIRA, Eset, BitDefender, Bullguard. Kết quả này khá phù hợp với kết quả thử nghiệm khả năng phát hiện các ứng dụng có tiềm ẩn nguy cơ không mong muốn "potentially unwanted applications" của AV-Comparatives mới công bố đầu tháng 12.

Kết quả thấp nhất thuộc về các sản phẩm của Kingsoft và CA, cả Norman và PC Tools cũng góp mặt trong nhóm cuối bảng này.

Hy vọng kết quả các cuộc thử nghiệm của hai tổ chức kiểm nghiệm độc lập & có uy tín AV-Comparatives và VB100 sẽ giúp các công ty phát triển phần mềm bảo mật và PTN của họ cải tiến sản phẩm, giúp người tiêu dùng cảm thấy an toàn hơn khi sử dụng các sản phẩm của họ. Hy vọng cuộc chiến giữa Virus và Anti-Virus trong năm 2010 sẽ êm dịu hơn cho người sử dụng máy tính được nhờ

Kết quả kiểm tra các phần mềm diệt virus của Virus Bulletin (08/2009)




Virus Bulletin
(VB) vừa công bố kết quả “kiểm tra sức khoẻ” một loạt phần mềm chống virus phổ biến, nhằm đảm bảo chúng chống chọi được các malware độc nhất. Điều bất ngờ là hãng bảo mật Symantec đã không đạt yêu cầu.

VB - công ty chuyên nghiên cứu về vấn đề bảo mật - đã tiến hành đánh giá 35 sản phẩm chống malware (phần mềm có hại) cho phiên bản 32 bit của Windows Vista SP2 Business.

Các yêu cầu cơ bản để một sản phẩm vượt qua quá trình kiểm tra là phải phát hiện được các virus phổ biến khi có yêu cầu quét, đồng thời không được bắt nhầm các file sạch (không bị nhiễm virus) khi người dùng truy cập tới những file này.

Các sản phẩm đã được thử nghiệm với khoảng 3000 mẫu malware độc nhất, thuộc 4 nhóm: các virus WildList, sâu máy tính và bot, virus đa hình, và các virus Trojan.

23 sản phẩm đã vượt qua cuộc kiểm tra, còn lại 12 sản phẩm không đạt yêu cầu. Cụ thể như sau:

• Các sản phẩm đạt yêu cầu:
- Alwil avast! Professional
- AVG Internet Security
- Avira AntiVir Professional
- CA eTrust ITM
- eEye Blink Professional
- ESET NOD32 Antivirus
- Fortinet FortiClient
- Frisk F-PROT antivirus
- F-Secure Client Security
- F-Secure PSB Workstation Security
- G DATA AntiVirus 2010
- Kaspersky Anti-Virus 2009
- Kingsoft Internet Security 2009 Advanced
- McAfee Total Security
- McAfee VirusScan Enterprise
- Microsoft Forefront Client Security
- MWTI eScan Internet Security Suite
- Nifty Corp. Security24
- Norman Security Suite
- Quick Heal AntiVirus Lite 2009
- Sophos Anti-Virus
- Trustport Antivirus 2009
• Các sản phẩm không đạt yêu cầu:
- Outpost Security Suite Pro (một trường hợp phát hiện nhầm)
- CA Internet Security Suite (bỏ lỡ 960 virus đa hình)
- Filseclab Twister AntiTrojanVirus (bỏ lỡ 2612 virus wildlist, 38 trường hợp phát hiện nhầm)
- Finport Simple Anti-Virus (bỏ lỡ 2897 virus wildlist, 2 trường hợp phát hiện nhầm)
- K7 Total Security Desktop (1 trường hợp phát hiện nhầm)
- Kingsoft Internet Security 2009 Standard (bỏ lỡ 228 virus wildlist)
- PC Tools AntiVirus 2009 (bỏ lỡ 1188 virus wildlist, 1 trường hợp phát hiện nhầm)
- PC Tools Internet Security 2009 (bỏ lỡ 1355 virus wildlist, trường hợp phát hiện nhầm)
- PC Tools Spyware Doctor (bỏ lỡ 1355 virus wildlist, 1 trường hợp phát hiện nhầm)
- Rising Internet Security 2009 (bỏ lỡ 43 virus wildlist, 1 trường hợp phát hiện nhầm)
- Symantec Endpoint Protection (bỏ lỡ 2 virus wildlist)
- VirusBuster Professional (một trường hợp phát hiện nhầm)


Một điều thú vị là kết quả kiểm tra của Kingsoft: phiên bản Standard đã không đạt yêu cầu trong khi phiên bản Advanced của sản phẩm lại đạt yêu cầu.

Mặt khác, PC Tools lại có 3 trong số các sản phẩm của mình không đạt, kể cả phần mềm được xếp thức hạng cao trong các cuộc kiểm tra khác là PC Tools Spyware Doctor. Đặc biệt, việc sản phẩm Symantec không vượt qua quá trình kiểm tra là điều khó tin vì "người khổng lồ" trong lĩnh vực bảo mật này luôn được nhắc đến ở vị trí "top" trên thị trường. Trong các lần kiểm tra trước, từ tháng 5/1998 đến 6/2009, sản phẩm của Symantec luôn vượt qua. Tuy nhiên, người sử dụng đơn lẻ cũng không nên quá thất vọng, vì sản phẩm được kiểm tra là Symantec Endpoint Protection, đây là sản phẩm không được nhiều người tiêu dùng nhỏ lẻ sử dụng, mà phần lớn là các công ty sử dụng (các công ty nên lo lắng dần đi nhá).

Bản công bố này cũng chứng kiến sự thành công của Microsoft với sản phẩm Forefront đang hứa hẹn hữu dụng không chỉ đối với doanh nghiệp, mà còn cả với người tiêu dùng bình thường.

Kết quả kiểm tra sắp tới của VB dành cho Windows Server 2008 sẽ được công bố sau 2 tháng nữa.

Windows Vista SP2 Business Edition - August 2

Agnitum

Status: FAIL
Failure reason: 1 false positive
Result history: Agnitum
Product name: Agnitum Outpost Security Suite Pro
Details: Only available to subscribers.

AhnLab

Status: PASS
Result history: AhnLab
Product name: AhnLab V3 Internet Security
Details: Only available to subscribers.

Alwil

Status: PASS
Result history: Alwil
Product name: Alwil avast! Professional
Details: Only available to subscribers.

AVG (Grisoft)

Status: PASS
Result history: AVG (Grisoft)
Product name: AVG Internet Security
Details: Only available to subscribers.

Avira

Status: PASS
Result history: Avira
Product name: Avira AntiVir Professional
Details: Only available to subscribers.

CA eTrust

Status: PASS
Result history: CA eTrust
Product name: CA eTrust ITM
Details: Only available to subscribers.

CA Home

Status: FAIL
Result history: CA Home
Product name: CA Internet Security Suite
Details: Only available to subscribers.

eEye

Status: PASS
Result history: eEye
Product name: eEye Blink Professional
Details: Only available to subscribers.

Eset

Status: PASS
Result history: Eset
Product name: ESET NOD32 Antivirus
Details: Only available to subscribers.

Filseclab

Status: FAIL
Failure reason: 2612 wildlist misses, 38 false positives
Result history: Filseclab
Product name: Filseclab Twister AntiTrojanVirus
Details: Only available to subscribers.

Finport

Status: FAIL
Failure reason: 2897 wildlist misses, 2 false positives
Result history: Finport
Product name: Finport Simple Anti-Virus
Details: Only available to subscribers.

Fortinet

Status: PASS
Result history: Fortinet
Product name: Fortinet FortiClient
Details: Only available to subscribers.

FRISK

Status: PASS
Result history: FRISK
Product name: Frisk F-PROT antivirus
Details: Only available to subscribers.

F-Secure

Status: PASS
Result history: F-Secure
Product name: F-Secure Client Security
Details: Only available to subscribers.

F-Secure

Status: PASS
Result history: F-Secure
Product name: F-Secure PSB Workstation Security
Details: Only available to subscribers.

GDATA

Status: PASS
Result history: GDATA
Product name: G DATA AntiVirus 2010
Details: Only available to subscribers.

K7 Computing

Status: FAIL
Failure reason: 1 false positive
Result history: K7 Computing
Product name: K7 Total Security Desktop
Details: Only available to subscribers.

Kaspersky

Status: PASS
Result history: Kaspersky
Product name: Kaspersky Anti-Virus 2009
Details: Only available to subscribers.

Kingsoft Standard

Status: FAIL
Failure reason: 228 wildlist misses
Result history: Kingsoft Standard
Product name: Kingsoft Internet Security 2009 Standard
Details: Only available to subscribers.

Kingsoft Advanced

Status: PASS
Result history: Kingsoft Advanced
Product name: Kingsoft Internet Security 2009 Advanced
Details: Only available to subscribers.

McAfee Total Security

Status: PASS
Result history: McAfee Total Security
Product name: McAfee Total Security
Details: Only available to subscribers.

McAfee

Status: PASS
Result history: McAfee
Product name: McAfee VirusScan Enterprise
Details: Only available to subscribers.

Microsoft Forefront

Status: PASS
Result history: Microsoft Forefront
Product name: Microsoft Forefront Client Security
Details: Only available to subscribers.

MicroWorld

Status: PASS
Result history: MicroWorld
Product name: MWTI eScan Internet Security Suite
Details: Only available to subscribers.

Nifty

Status: PASS
Result history: Nifty
Product name: Nifty Corp. Security24
Details: Only available to subscribers.

Norman

Status: PASS
Result history: Norman
Product name: Norman Security Suite
Details: Only available to subscribers.

PC Tools AntiVirus

Status: FAIL
Failure reason: 1188 wildlist misses, 1 false positive
Result history: PC Tools AntiVirus
Product name: PC Tools AntiVirus 2009
Details: Only available to subscribers.

PC Tools Internet Security

Status: FAIL
Failure reason: 1355 wildlist misses, 1 false positive
Result history: PC Tools Internet Security
Product name: PCTools Internet Security 2009
Details: Only available to subscribers.

PC Tools Spyware Doctor

Status: FAIL
Failure reason: 1355 wildlist misses, 1 false positive
Result history: PC Tools Spyware Doctor
Product name: PCTools Spyware Doctor
Details: Only available to subscribers.

Quick Heal

Status: PASS
Result history: Quick Heal
Product name: Quick Heal AntiVirus Lite 2009
Details: Only available to subscribers.

Rising

Status: FAIL
Failure reason: 43 wildlist misses, 1 false positive
Result history: Rising
Product name: Rising Internet Security 2009
Details: Only available to subscribers.

Sophos

Status: PASS
Result history: Sophos
Product name: Sophos Anti-Virus
Details: Only available to subscribers.

Symantec

Status: FAIL
Failure reason: 2 wildlist misses
Result history: Symantec
Product name: Symantec Endpoint Protection
Details: Only available to subscribers.

AEC (Trustport)

Status: PASS
Result history: AEC (Trustport)
Product name: Trustport Antivirus 2009
Details: Only available to subscribers.

VirusBuster

Status: FAIL
Failure reason: 1 false positive
Result history: VirusBuster
Product name: VirusBuster VirusBuster Professional
Details: Only available to subscribers.

(Chi tiết trên VB)